An Toàn Lao Động

An Toàn Lao Động

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

NĂM 2014, SẼ SỬA ĐỔI CHÍNH SÁCH VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG ĐẶC THÙ

NĂM 2014, SẼ SỬA ĐỔI CHÍNH SÁCH VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG ĐẶC THÙ
Ngày 27/8, tại Hà Nội, Cục An toàn lao động (Bộ LĐTB&XH) đã tổ chức "Hội thảo chuyên đề về chế độ chính sách bảo hộ lao động đặc thù". Đại diện các Bộ ngành, các doanh nghiệp, địa phương đã tham dự và thảo luận những bất cập cụ thể cần phải sửa đổi.
Ngày 27/8, tại Hà Nội, Cục An toàn lao động (Bộ LĐTB&XH) đã tổ chức "Hội thảo chuyên đề về chế độ chính sách bảo hộ lao động đặc thù". Đại diện các Bộ ngành, các doanh nghiệp, địa phương đã tham dự và thảo luận những bất cập cụ thể cần phải sửa đổi.

Nội dung quy định bồi dưỡng hiện vật, quy định trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân và định hướng sửa đổi; Thực tế triển khai quy định của pháp luật về bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ đặc thù tại doanh nghiệp, những khó khăn vướng mắc đã được các Tập đoàn lớn như Than Khoáng   bao ho lao dong   sản, Thuốc lá... phân tích làm rõ tại hội thảo.
Đặc biệt danh mục những công việc không được sử dụng lao động nữ, lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ theo quy định hiện hành của Bộ Luật lao động đã được rà soát để sửa đổi trong Thông tư thay thế tới đây được Hội thảo bàn luận làm rõ.
Trong năm 2014, Bộ LĐTB&XH sẽ có những quy định cụ thể để triển khai các quy định về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động. Trong đó sẽ điều chỉnh danh mục nghề nặng nhọc độc hại, nguy hiểm và chế độ bồi dưỡng. Sẽ làm rõ những điều kiện cần và đủ khi thực hiện chế độ bồi dưỡng  bảo hộ lao động  độc hại nguy hiểm.
Tại Hội thảo, lãnh đạo Cục An toàn lao động đã giải thích rõ chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và bữa ăn giữa ca. Hiện nhiều doanh nghiệp đã có sự nhầm lẫn về khái niệm này dẫn đến chi không đúng. Theo đó, chế độ bồi dưỡng ngay bằng hiện vật nhằm tăng cường năng lực thải độc tại chỗ và không được quy đổi thành tiền. Tùy môi trường, điều kiện công việc để có chế độ thải độc khác nhau, không được đánh đồng đây là chế độ ăn ca để quy đổi thành tiền...

AN TOÀN LAO ĐỘNG Ở CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

AN TOÀN LAO ĐỘNG Ở CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
QĐND - Hiện nay, việc xây dựng công trình nhà ở dân dụng tương đối phổ biến ở các địa phương. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh người lao động “vắt vẻo” trên những giàn giáo mà không được trang bị bảo hộ lao động. Những người thợ xây, thợ sơn... thường phải làm việc ở trên cao, hết sức nguy hiểm. Các yếu tố rủi ro xuất phát từ chính việc các nhà thầu xây dựng không đáp ứng những biện pháp về an toàn lao động đúng theo quy định, nhất là việc che chắn khi   bao ho lao dong   người lao động làm việc trên độ cao; hoặc sử dụng các loại cây gỗ không bảo đảm chất lượng để thiết kế giàn giáo. Ngoài ra, các loại bụi vật liệu, mùi hóa chất từ các loại sơn… tại công trường xây dựng ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động về lâu dài. Bên cạnh đó, người lao động và người sử dụng lao động vẫn chưa ý thức thực hiện các quy định về an toàn lao động, nên hằng năm chỉ tính riêng trong lĩnh vực xây dựng đã xảy ra hàng trăm vụ tai nạn lao động thương tâm, gây thương tật vĩnh viễn, thậm chí thiệt hại tính mạng cho người lao động.


Người sử dụng lao động cần đặc biệt coi trọng vấn đề bảo đảm an toàn lao động. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần nhắc nhở, đồng thời có biện pháp quản lý tốt để góp phần nâng cao ý thức thực hiện các quy định về an toàn lao động đối với người sử dụng lao động và người lao động trong loại hình này.

MẬP MỜ VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NGUỒN GỐC CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HỘ LAO ĐỘNG

MẬP MỜ VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NGUỒN GỐC CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Thị trường thiết bị bảo hộ lao động: Mập mờ nguồn gốc, chất lượng
(Dân Việt) - Hiện nay, thị trường bày bán tràn lan các thiết bị bảo hộ lao động trong nhiều lĩnh vực nhưng không được kiểm định khiến người lao động có nguy cơ “tiền mất, tật mang”.
Bảo hộ… thiếu an toàn
Khảo sát của PV tại một số cửa hàng có bán thiết bị bao ho lao dong như đường Lê Duẩn, Yết Kiêu (Hà Nội), cho thấy, thị trường thiết bị bảo hộ lao động rất nhiều nhưng nguồn gốc và chất lượng sản phẩm còn rất mập mờ. Đa phần đều là những thiết bị bảo hộ trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Trong khi đó, nhiều loại thiết bị bảo hộ lao động chuyên dùng trong lĩnh vực nông nghiệp như: Giày, găng tay, mặt nạ chống độc hóa chất,… thì hầu như là không có

Chị Nguyễn Thị Minh (Thanh Oai, Hà Nội) phàn nàn: “Việc đồng áng, vườn tược khiến tôi thường xuyên phải tiếp xúc với hóa chất, thuốc trừ sâu. Nhiều lúc cũng sợ bị ảnh hưởng hóa chất độc nên đi mua đồ bảo hộ nhưng chỉ mua hú họa, chẳng biết cái nào tốt, xấu”. Do không có đồ chuyên dụng nên chị chỉ mua được găng tay y tế và ủng cao su dành trong xây dựng, khẩu trang vải. Giá thành của các loại găng, ủng, khẩu trang này khá rẻ, nhưng thường thủng, mòn nên thuốc vẫn ăn tay, chân bị nấm vì ngâm nước bẩn. Chị Minh vẫn thường xuyên chóng mặt vì hít phải thuốc trừ sâu. Chồng chị làm nghề thợ xây, cũng mua mũ bảo hộ để đội nhưng có lần đã suýt mất mạng vì mảnh gạch rơi vỡ cả mũ.
Ông Triệu Quốc Lộc – Giám đốc Trung tâm Khoa học và An toàn lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) cho rằng: “Do làm chưa tốt công tác thanh tra, xử lý nên thị trường ngày càng có nhiều sản phẩm bảo hộ lao động trôi nổi, kém chất lượng. Hơn nữa, không ít doanh nghiệp sản xuất sản phẩm này đã tiết kiệm chi phí bằng cách ăn bớt nguyên vật liệu, làm gian dối, nên sản phẩm rẻ nhưng lại thiếu an toàn”.
Thiếu đầu tư
Anh Nguyễn Văn Nam - một chủ đại lý kinh doanh thiết bị bảo hộ lao động ở huyện Thanh Oai cho biết: “Mặt hàng bảo hộ lao động rất đa dạng, chủ yếu vẫn là thiết bị được nhập về từ Trung Quốc, hàng sản xuất Việt Nam rất ít. Đa phần là các sản phẩm dành cho ngành công nghiệp, xây dựng. Riêng các mặt hàng về bảo hộ lao động trong nông nghiệp thì rất hiếm. Một số loại như găng tay, ủng, hay mặt nạ chống độc có thì đại lý cũng nhập rất ít vì không có mấy người mua”.
“Theo nghiên cứu tháng 4.2011 của Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 90% số thiết bị bảo hộ lao động chưa an toàn. Các thiết bị chuyên dụng như tai nghe chống ồn, mặt nạ phòng độc, mũ chống vật lạ... càng phập phù chất lượng”.
Theo ông Lộc, hiện nay, đa phần các thiết bị bảo hộ lao động có bán trên thị trường dùng cho công nghiệp và dịch vụ. Vì lao động trong nông nghiệp chủ yếu là lao động phi kết cấu nên, chưa chịu sự tác động của Luật Lao động chính vì thế việc quản lý, thống kê tai nạn lao động, hay trang bị an toàn lao động còn nhiều hạn chế. Đa phần là do ý thức tự giác của người lao động, chứ không được quy củ như các lĩnh vực trong công nghiệp hay xây dựng. Bà con lại lao động theo nếp cũ, tài chính hạn hẹp nên không chú trọng bảo hộ cho mình. Tuy nhiên, nếu có tiền, người dân cũng không thể tìm mua được thiết bị bảo hộ chuyên dụng cho nông dân.
Theo ông Lộc thời gian tới ngoài việc đưa Luật Lao động sửa đổi vào cuộc sống, thì các cơ quan chức năng, Nhà nước cũng cần có chính sách phát triển ngành công nghiệp sản xuất thiết bị bảo hộ lao động. Bên cạnh đấy cũng cần hỗ trợ, trang bị thiết bị bảo hộ cho các nhóm lao động yếu thế như nông dân, ngư dân… để giúp họ yên tâm lao động.

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TOÀ ÁN - MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TOÀ ÁN - MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

      Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động. Trong mối quan hệ này, người lao động đem sức lao động của mình làm việc cho người sử dụng lao động và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận. Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động. Những lợi ích đối lập này giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau. Do vậy, tranh chấp lao động xảy ra là điều dễ nhận thấy. Tranh chấp lao động bao gồm hai loại: tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Tuỳ theo từng loại tranh chấp mà hệ thống cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết được qui định khác nhau.
      Theo qui định tại Điều 165 Bộ luật Lao động đã sửa đổi, bổ sung năm 2006 (BLLĐ đã SĐBS 2006) cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
      - Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động
      - Toà án nhân dân.
      Theo quy định tại điều 166 Bộ luật Lao động (SĐBS 2006) và điểm c khoản 1, Điều 33, khoản 1 Điều 31 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn luật định, khi có đơn yêu cầu của một hoặc hai bên tranh chấp. Những tranh chấp lao động cá nhân sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở, có thể yêu cầu Toà án nhân cấp huyện giải quyết (khoản 2 Điều 166 BLLĐSĐBS 2006):
      a) Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
      b) Tranh chấp bề bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
      c) Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
      d) Tranh về bảo hiểm xã hội;
      đ) Tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
      Riêng đối với tranh chấp lao động cá nhân có yếu tố nước ngoài, khoản 3 Điều 33 Bộ Luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) quy định: “Những tranh chấp...mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện”. Với quy định này, thẩm quyền giải quyết vụ án lao động cho Toà án nhân dân cấp huyện không có sự phân biệt giữa tranh chấp lao động cá nhân có yếu tố nước ngoài hay không có yếu tố nước ngoài. Quy định trên tất yếu sẽ đẩy khối lượng công việc của Toà án nhân dân cấp huyện tăng lên đáng kể. Và, ngoài ra đi kèm với nó là vấn đề trách nhiệm, chất lượng xét xử và một loạt vấn đề khác như: bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ thẩm phán; lựa chọn người tham gia với tư cách hội thẩm nhân dân, củng cố đội ngũ kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện...
      Theo báo cáo công tác ngành Toà án, từ nửa cuối năm 1997, tranh chấp lao động đưa đến Toà án nhân dân tối cao, số vụ việc tranh chấp lao động mà Toà án các cấp thụ lý giải quyết trong 6 năm gần đây (từ năm 2003 đến 2008) như sau:
      - Năm 2003 Toà án các cấp đã thụ lý giải quyết 781 vụ, trong đó ở cấp sơ thẩm là 578 vụ, cấp phúc thẩm là 90 vụ và cấp giám đốc thẩm là 14 vụ.
      - Năm 2004: Toà án các cấp thụ lý giải quyết 766 vụ; trong đó: cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là 603 vụ, cấp phúc thẩm 111 vụ, giám đốc thẩm 52 vụ.
      - Năm 2005: 1.129 vụ; trong đó cấp sơ thẩm thụ lý 950 vụ, cấp phúc thẩm 174 vụ, giám đốc thẩm 97 vụ.
      - Năm 2006: Toà án các cấp thụ lý giải quyết 1043 vụ; trong đó cấp sơ thẩm thụ lý 820 vụ, cấp phúc thẩm 205 vụ, giám đốc thẩm 109.
      - Năm 2007: Toà án các cấp thụ lý giải quyết 1.423 vụ việc ; trong đó cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết 1.022 vụ, phúc thẩm 244 vụ, giám đốc thẩm 157 vụ.
      - Năm 2008: Toà án các cấp thụ lý giải quyết 1.734 vụ việc ; trong đó cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết 1.430 vụ, phúc thẩm 155 vụ, giám đốc thẩm 149 vụ.
      So với các loại vụ việc tranh chấp về dân sự, kinh doanh – thương mại, thì các tranh chấp lao động đưa đến Toà án chưa nhiều, nhưng có chiều hướng tăng dần. Tuyệt đại đa số các tranh chấp lao động đưa đến Toà án là tranh chấp lao động cá nhân. Trong 13 năm qua, chỉ có 02 vụ tranh chấp lao động tập thể đưa đến Toà án; 04 vụ đình công (Thái Nguyên 01. Vĩnh Phúc 01 và thành phố Hồ Chí Minh 02. Từ khi Bộ luật Lao động mới được ban hành (1995) đến năm 2003, tranh chấp lao động cá nhân chủ yếu là tranh chấp về sa thải, về chấm dứt hợp đồng lao động. Từ khoảng cuối năm 2003 đến nay, ngoài các loại việc tranh chấp chủ yếu như trên, thì xuất hiện nhiều loại tranh chấp về tiền lương, tiền thưởng, về phân phối thu nhập, về đòi quyền lợi bảo hiểm xã hội, về bồi thường thiệt hại.
      Tranh chấp lao động xảy ra tại khu các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là chủ yếu và luôn có chiều hướng tăng. Kết quả khảo sát tình hình tranh chấp lao động của Toà án nhân dân tối cao và của các ngành liên quan cho thấy tranh chấp lao động xảy ra trong thực tế là nhiều, nhưng số vụ việc đưa đến Toà án thì còn rất hạn chế. Tình trạng này không phải vì việc hoà giải tại cơ sở tốt, mà ngược lại, chính thủ tục hoà giải đã hạn chế quyền khởi kiện vụ án của các bên tranh chấp. Bên cạnh đó, nguyên nhân từ sự hiểu biết pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động của người lao động còn hạn chế; các tổ chức tư vấn cho người lao động chưa phát huy được ảnh hưởng. Chính vì vậy mà nhiều vụ việc đưa đến Toà án, Toà án phải trả lại đơn khởi kiện vì đã hết thời hiệu khởi kiện, hoặc vì chưa qua hoà giải tại cơ sở. Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ lao động. Các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động khi áp dụng vào thực tế còn nhiều vướng mắc. Bài viết sau đây đề cập đến một số vấn đề bất cập trong giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Toà án
     1. Về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động:
      Theo quy định tại Điều 167 Bộ luật Lao động, thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như sau:
      - Một năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các tranh chấp lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 166 của Bộ luật này;
      - Một năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với tranh chấp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 166 của Bộ luật này;
      - Ba năm, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với tranh chấp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 166 của Bộ luật này;
      - Sáu tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích của mình bị vi phạm đối với các loại tranh chấp khác.
      Khoản 3 a Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự qui định: “Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện áp dụng thống nhất cho mọi vụ án dân sự là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước bị xâm phạm”.
      Quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động nói trên có một số vấn đề cần lưu ý sau:
      Thứ nhất, qui định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Điều 167 Bộ luật Lao động (SĐBS 2006) được áp dụng chung cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết trong đó có Toà án. Còn thời hiệu qui định tại khoản 3 a Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự chỉ áp dụng với Toà án. Khác với các tranh chấp dân sự thông thường, chỉ có một số loại tranh chấp lao động cá nhân được quy định tại khoản 2 Điều 166 (SĐBS 2006) các bên chủ thể có quyền kiện thẳng ra Toà án, còn các trường hợp khác, Toà án chỉ thụ lý khi vụ tranh chấp đã qua Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hay hoà giải viên lao động đã hoà giải nhưng không thành hoặc hết thời hạn hoà giải theo luật định mà Hội đồng hoà giải hay hoà giải viên không tiến hành hoà giải. Như vậy, với quy định tại khoản 3 a Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự là rất khó thực hiện trên thực tế đối với những vụ án tranh chấp lao động các bên không   bao ho lao dong   có quyền kiện ra Toà án.
      Thứ hai, thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động theo quy địn tại Điều 167 Bộ luật Lao động (SĐBS 2006) từ 6 tháng đến 3 năm tuỳ vào loại tranh chấp. Nhưng, theo qui định tại khoản 3 a Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự thì thời hiệu này được áp dụng cho cả việc giải quyết vụ án lao động là 2 năm. Như vậy, phải chăng đã có sự không thống nhất trong việc quy định và hướng dẫn về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động.
      Thứ ba, đối với tranh chấp lao động cá nhân không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở thì thời hiệu khởi kiện sẽ ngắn hơn hoặc dài hơn (tuỳ vào từng trường hợp) so với thời hiệu được qui định tại khoản 3 a Điều 159 Bộ luật tố tụng Dân sự. Những vụ tranh chấp lao động cá nhân mà các bên lựa chọn hoà giải cơ sở trước khi kiện ra Toà án hoặc những vụ tranh chấp lao động cá nhân phải qua thủ tục hoà giải tại cơ sở thì Bộ luật Lao động có quy định trường hợp những tranh chấp lao động phải qua hoà giải thì thời hiệu khởi kiện vụ án được tính từ thời điểm xảy ra tranh chấp, hay tính từ thời điểm hoà giải không thành hoặc thời điểm hết thời hạn hoà giải mà không hoà giải. Vậy, sẽ bổ sung qui định này vào Điều 167 Bộ luật Lao động (SĐBS) hay áp dụng thời hiệu 2 năm trong Bộ luật tố tụng Dân sự cho những trường hợp này ? Nếu áp dụng Bộ luật tố tụng Dân sự thì thời hiệu được tính từ ngày quyền, lợi ích của các bên bị xâm phạm hay từ ngày phát sinh quyền yêu cầu Toà án giải quyết của các chủ thể theo qui định của BLLĐ.
      2. Vấn đề hoà giải tại Toà án
      Theo qui định tại Điều 166 BLLĐ (SĐBS 2006) thì Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc không giải quyết trong thời hạn luật định, trừ những tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua hoà giải tại cơ sở (nhưng nếu các bên có yêu cầu hoà giải thì Toà án cũng chỉ được thụ lý khi hoà giải không thành).
      Như vậy, theo qui định của BLLĐ (SĐBS 2006) hòa giải là thủ tục bắt buộc, xuyên suốt trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động nói chung và tranh chấp lao động cá nhân nói riêng. Thế nhưng, theo qui định của BLTTDS (Điều 180), thủ tục hoà giải chỉ bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử mà không bắt buộc tại phiên toà sơ thẩm. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động cho thấy vấn đề này có một số nội dung cần chú ý như sau:
      Thứ nhất, theo qui định nếu vụ tranh chấp đã qua hoà giải mà không thành thì Toà án chỉ thụ lý vụ việc nhưng việc hoà giải phải đúng pháp luật. Hoà giải đúng pháp luật là do Hội đồng hoà giải cơ sở hoặc hoà giải viên lao động giải quyết theo đúng thẩm quyền, trình tự do pháp luật qui định. Trong thực tế, hoà giải một cách qua loa, hình thức để không bị coi là vi pham nghiêm trọng về mặt thủ tục. Ngay cả với qui định tại Điều 220 BLTTDS cũng theo hướng nếu có cơ hội hoà giải thành thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có trách nhiệm tiến hành thủ tục này trước khi xét hỏi chứ không phải chỉ hỏi “các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không” theo kiểu nghĩa vụ phải hỏi.
      Thứ hai, sau khi có đơn yêu cầu Hội đồng hoà giải cơ sở hay hoà giải viên lao đông giải quyết nhưng các bên lại có đơn yêu cầu Toà án giải quyết, Toà án có thụ lý không ? Trong trường hợp này đối với những vụ tranh chấp lao động phải qua hoà giải thì Toà án không thụ lý và trả lại đơn kiện (Điều 168 BLTTDS). Riêng đối với tranh chấp lao động cá nhân không nhất thiết phải qua hoà giải nhưng họ lại đưa vụ tranh chấp ra hoà giải, theo qui định của BLLĐ (khoản 2, Điều 166) và BLTTDS (Điều 161) không hạn chế quyền khởi kiện của họ ra Toà án. Do vậy, Toà án sẽ thụ lý và giải quyết bình thường.
     3. Một số vấn đề khác có liên quan
      - Tranh chấp lao động phát sinh từ nội dung của hợp đồng lao động và công ty bảo hộ lao động Trong thực tiễn hiện nay có nhiều vụ án giữa người lao động và người sử dụng lao động ngoài việc thoả thuận những nội dung quy định tại khoản 1 Điều 29 BLLĐ còn thoả thuận thêm một số điều khoản khác như: Trong thời gian từ 1-2 năm đầu làm việc tại công ty, người lao động nữ không được phép sinh con, nếu vi phạm thì người sử dụng lao động có quyền cắt 40% tiền lương hàng tháng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; trong thời gian thực hiện hơp đồng lao động với công ty, người lao động không được làm việc cho công ty khác. Khi xảy ra tranh chấp, người sử dụng lao động căn cứ vào thoả thuận trong hợp đồng lao động đề nghị Toà án buộc người lao động phải thực hiện cam kết. Có những ý kiến cho rằng, người lao động đã tự nguyện thoả thuận với người sử dụng lao động nên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết đó. Để giải quyết những vụ án như trên, theo tôi cần phải đánh giá xem những điều khoản thoả thuận đó có giá trị pháp lý hay không hay nói cách khác là những điều khoản đó có trái pháp luật và đạo đức xã hội hay không. Căn cứ vào qui định của BLLĐ mà cụ thể là khoản 3 Điều 111, Điều 60, khoản 3 Điều 30 cho thấy những thoả thuận trên là không có giá trị pháp lý.
      - Khi người lao động lấy họ tên người khác để ký hợp đồng lao động, sau một thời gian làm việc người sử dụng lao động phát hiện ra, kiện yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng lao động với lý do bị lừa dối khi ký hợp đồng lao động. Trong trường hợp này Toà án có thụ lý giải quyết không ? Nếu thụ lý thì giải quyết như thế nào. Về vấn đề này có ý kiến cho rằng: “Quyền chấm dứt hợp đồng lao động là quyền của người sử dụng lao động và người lao động nên BLLĐ cũng như Điều 31 BLTTDS không qui định thẩm quyền của Toà án huỷ hợp đồng lao động. Do đó, nếu người sử dụng lao động thì Toà án trả lại đơn kiện. Nếu người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lý do trên, người lao động khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động thì theo điểm a khoản 1 Điều 31 BLTTDS thuộc thẩm quyền của Toà án”. Theo tôi cách hiểu như trên là chưa xác đáng, bởi lẽ theo Điều 38 BLLĐ, thì trường hợp người sử dụng lao động bị lừa dối khi ký kết hợp đồng lao động không phải là căn cứ để họ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Hiện nay pháp luật lao động chưa quy định hợp đồng lao động vô hiệu do bị lừa dối. Vì thế, để xem xét hợp đồng lao động trên có bị vô hiệu hay không cần làm rõ lý do vì sao người lao động phải dùng tên người khác để ký hợp đồng lao động. Nếu chỉ vì lý do hộ khẩu, thì không nên coi hợp đồng lao động đó là trái pháp luật. Nhưng, nếu người sử dụng lao động đòi hỏi người lao động phải có bằng cấp mới ký hợp đồng lao động, nên người lao động đã dùng tên người khác và sử dụng bằng cấp của họ để ký hợp đồng lao động là trái với yêu cầu, mục đích của người sử dụng lao động. Vì vậy, không thể coi người sử dụng lao động đã tự nguyện thoả thuận ký hợp đồng lao động, nên hợp đồng lao động đó trái với Điều 26 BLLĐ, bị coi là vô hiệu. Trường hợp này cần chấp nhận quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Người lao động không thể yêu cầu người sử dụng lao động phải nhận họ trở lại làm việc. Người lao động chỉ có quyền yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ trong thời gian người lao động đã thực hiện hợp đồng lao động.
      - Về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất: theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 85 BLLĐ có qui định hình thức   bảo hộ lao động   xử lý kỷ luật sa thải “khi người lao động có hành vi khác gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của doanh nghiệp”, hành vi khác theo qui định này là hành vi nào ? và thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng ? Đây là vấn đề đang còn nhiều ý kiến khác nhau vì hiện tại chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể “hành vi khác” bao gồm những hành vi nào và mức thiệt hại bao nhiêu thì bị coi là nghiêm trọng. Nên khi xét xử các Toà án cần phải xác định theo hai tiêu chí sau đây: hành vi khác phải là những hành vi vi phạm kỷ luật lao động, xuất phát từ quan hệ lao động; mức thiệt hại được coi là nghiêm trọng là mức thiệt hại đã đươc qui định trong nội quy, quy chế của người sử dụng lao động. Nếu trong nội quy, quy chế chưa quy định thì cần áp dụng tương tự như quy định tại Điều 14 Nghị định số 41/CP ngày 06/07/1995 (theo đó mức thiệt hại được coi là nghiêm trọng là từ 5 triệu đồng trở lên).
      4. Một số ý kiến đề xuất
       4.1 Về các qui định của BLLĐ
      - Chế định tranh chấp trong BLLĐ cần phải được hoàn thiện theo hướng: xây dựng khái niệm tranh chấp lao động tập thể, căn cứ xác định vụ việc tranh chấp lao động tập thể để phân biệt với tranh chấp lao động cá nhân.
     - Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tại các Điều 166 và 167 của BLLĐ cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với đặc thù của quan hệ lao động và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên, đặc biệt là cho phía người lao động.
      - Cần bổ sung vào Chương XIV của BLLĐ qui định về “Thương lượng trong giải quyết tranh chấp lao động” thay thế cho thủ tục hoà giải tại Hội đồng hoà giải lao động cơ sở.
      4.2 Về  thủ tục tố tụng tại Toà án:
      - Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động của Toà án: Qui định của Điều 31 BLTTDS phải sửa đổi cho phù hợp với nội dung sửa đổi tại Chương XIV BLLĐ 2006. Cụ thể là: qui định thủ tục thương lượng là bắt buộc, chỉ khi một bên từ chối thương lượng hoặc đã thương lượng mà không có kết quả thì một hoặc các bên mới có quyền khởi kiện ra Toà án.
      Không qui định hoà giải là bắt buộc, nhưng không hạn chế quyền của các bên đưa việc tranh chấp ra hoà giải. Tuy nhiên, nếu đã có yêu cầu hoà giải, thì chỉ khi hoà giải không thành, hoặc không tiến hành hoà giải được, các bên mới có quyền khởi kiện đến Toà án.
      - Về thủ tục khởi kiện: việc giải quyết tranh chấp lao động đòi  hỏi thủ tục tố tụng tại Toà án phải đơn giản, thông thoáng nhằm tạo cơ hội và khả năng tốt nhất để người lao động và người sử dụng lao động đều muốn đưa việc tranh chấp đến Toà án. Các qui định về điều kiện khởi kiên, phạm vi khởi kiện, thời hiệu khởi kiện cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn cho phù hợp với đặc thù của quan hệ lao động.
     - Sự tham gia tố tụng của tổ chức Công đoàn: trong quan hệ lao động, đặc biệt là ở Việt Nam, khả năng tranh tụng tại Toà án của người lao động nhìn chung còn rất hạn chế. Do vậy, pháp luật về tố tụng cần phải có những qui định phù hợp để tạo được sự cân bằng lợi thế về quyền, nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết tranh chấp lao động, đồng thời bảo đảm để tổ chức Công đoàn được tham gia một cách hiệu quả trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người lao động tại phiên toà lao động.
      - Mô hình tài phán tư pháp về lao động: xu hướng vận động phát triển của các quan hệ kinh tế trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng, điều đó cho thấy tranh chấp lao động sẽ ngày càng phổ biến. Do đó, cơ chế tài phán về lao động cũng phải thay đổi để đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nhiều nước trên thế giới hiện nay (kể cả các nước công nghiệp phát triển và đang phát triển) đều tổ chức các Toà án lao động độc lập và giải quyết các tranh chấp lao động rất có hiệu quả, như: Cộng hoà liên bang Đức, Trung Quốc, Thái Lan, Philipin...
      ở Việt Nam, về lâu dài cũng cần tính đến việc nghiên cứu xây dựng mô hình Toà án lao động độc lập, giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục tố tụng riêng. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn cần phải có điều kiện nghiên cứu, khảo sát, học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước.
                                                                                    TS. Lê Thị Hoài Thu
                                                                                Khoa Luật - ĐHQGHN


Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại toà án - Một số bất cập và hướng hoàn thiện
Cập nhật ngày: 14/08/2009

Nếu như trước đây, quyền lợi của các bên trong quan hệ lao động chủ yếu do Nhà nước quyết định thì nay, quan hệ này lại chủ yếu do các bên tự thương lượng, thoả thuận để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tính chất của quan hệ lao động có sự thay đổi về chất.

VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG THƯƠNG TÂM Ở ĐỒNG THÁP: MẤT MÁT KHÔNG CỦA RIÊNG AI

VỤ TAI NẠN LAO ĐỘNG THƯƠNG TÂM Ở ĐỒNG THÁP: MẤT MÁT KHÔNG CỦA RIÊNG AI

Chiều 5.9, tại xã Bình Thành (huyện Lấp Vò) đã diễn ra lễ truy điệu anh Mai Hữu Tôn - một trong 6 nạn nhân tử vong trong vụ tai nạn lao động (TNLĐ) thương tâm tại Dự án Nhà máy tinh luyện mỡ cá IDI. Đại diện Tổng LĐLĐVN, chính quyền địa phương cùng hàng trăm cán bộ, nhân viên Cty IDI đã có mặt tiễn đưa người giám đốc xấu số.
 Đại diện Tổng LĐLĐVN trao tiền hỗ trợ từ Quỹ TLV Lao Động.
Anh Mai Hữu Tôn (31 tuổi) là giám đốc NM phụ phẩm kiêm trưởng ban dự án dầu cá IDI. Còn trẻ, được đào tạo bài bản, có năng lực, nên kỹ sư Mai Hữu Tôn được lãnh đạo Cty quý như “cục vàng”. Cùng với tính tình hiền hòa, hết lòng với mọi người, kỹ sư Tôn được mọi người trong NM yêu quý, tin tưởng.

Đứng trước quan tài anh Mai Hữu Tôn  bảo hộ lao động  trong ngôi nhà tuềnh toàng là người góa phụ còn trẻ cùng đứa con gái 4 tuổi. Chị Nguyễn Thị Kim Hồng - người vợ và cũng là đồng nghiệp của anh Tôn - không còn nước mắt để khóc chồng. Nhận số tiền hỗ trợ 3 triệu đồng của Quỹ TLV Lao Động từ ông Ngô Minh Đông - đại diện Tổng LĐLĐVN - chị Kim Hồng nghẹn ngào nói: “Gia đình em cảm ơn rất nhiều, sự quan tâm, chia sẻ của mọi người sẽ giúp mẹ con em đứng vững trong hoạn nạn”.



Tại ấp Long Bữu, xã Hòa Long (huyện Lai Vung), tiếng khóc của người mẹ cùng 5 chị em gái của nạn nhân Trần Tấn Lợi làm ai cũng chạnh lòng. Lợi là con trai duy nhất trong nhà, cách đây vài năm cha anh bệnh mất, bây giờ lại tới đứa con trai duy nhất trong nhà... Đoàn khách của LĐLĐ huyện Lai Vung và Tổng LĐLĐVN đến đã làm ấm áp hơn đám tang của người công nhân xấu số.

Do sự bất cẩn trong công việc

Sáng 5.9, PV Lao Động đã có buổi trao đổi trực tiếp với ông Hồ Mạnh Dũng - GĐ Ban điều hành Dự án NM tinh luyện mỡ cá. Ông Dũng cho biết, đây là một trong những NM trực thuộc Cty CP đầu tư phát triển đa quốc gia IDI - chuyên sản xuất cá tra philê xuất khẩu. NM này đang trong quá trình vận hành thử nghiệm.

Theo quy định, mỗi tuần NM lấy mẫu (dầu cá) 1 lần tại các bồn chứa. Mỗi lần lấy mẫu phải có 3 người cùng đi. Thực hiện đúng quy định, vào khoảng từ 9 giờ đến 9 giờ 20 phút sáng 4.9, các anh Triệu Bá Trà, Lâm Thanh Phong và Trần Tấn Lợi được phân công đi lấy mẫu trong bồn cao khoảng 6m. Lúc này, mực dầu cá trong bồn xuống thấp (khoảng 1/3 bồn).

Anh Phong dùng dụng cụ lấy mẫu (sợi dây cột vào một vật bằng inox) thả xuống, nhưng do dây ngắn, nên không thể chạm đến lớp dầu. Thay vì tìm sự an toàn  bảo hộ lao động  sợi dây khác để nối cho dài hơn, anh Phong lại trực tiếp leo xuống bằng cầu thang trong bồn. Do trong bồn thiếu ôxy, anh Phong khó thở, mất sức rồi vuột tay té xuống bồn.

Đứng phía trên nhìn thấy, anh Lợi tưởng anh Phong bị trượt tay (do dầu cá rất trơn) liền kêu cứu, rồi leo xuống tiếp ứng, anh này sau đó cũng bị ngạt vì thiếu ôxy. Tiếp đến, anh Trà và một số người khác cùng đến tiếp ứng, dẫn đến vụ tai nạn đáng tiếc.

“Các bồn chứa dầu cá được đậy nắp thường xuyên, nên lượng ôxy rất thấp. Thông thường, khi mở nắp bồn phải chờ một thời gian nhất định để tăng lượng ôxy. Tuy nhiên, anh Phong đã chủ quan, còn mọi người thấy đồng nghiệp bị nạn đã không ngại nguy hiểm đến ứng cứu. Đây là sự hy sinh cao cả, Cty sẽ tổ chức lễ truy điệu tại nhà cho các anh em” - ông Dũng cho hay.

Ông Dũng cũng cho biết, sau khi xảy ra sự cố, NM đã tạm ngừng hoạt động, có thể trong tuần sau sẽ hoạt động trở lại. Cũng trong ngày 4.9, phía Cty đã đến thăm hỏi, động viên, chia buồn và trao số tiền hỗ trợ 100 triệu đồng cho gia đình các nạn nhân.

Thượng tá Lê Văn Dũng - Phó Trưởng CA huyện Lấp Vò - cho biết, qua khám nghiệm tử thi, bước đầu nhận định, các nạn nhân do bị thiếu không khí, bị ngạt dẫn đến tử vong.

SÁU CÔNG NHÂN CHẾT CHƯA RÕ NGUYÊN NHÂN

SÁU CÔNG NHÂN CHẾT CHƯA RÕ NGUYÊN NHÂN
 Khoảng 9 giờ, ngày 4-9, tại Nhà máy tinh luyện dầu cá, Công ty DID, xã Bình Thành, huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) xảy ra vụ tai nạn lao động, làm sáu công nhân chết
Kết quả xác minh của cơ quan chức năng cho biết, trong khoảng thời gian trên, công nhân của nhà máy đang lấy mẫu mỡ cá để kiểm nghiệm, thì nhiều công nhân có triệu chứng khó thở và được đưa đi cấp cứu, nhưng sau đó sáu người  bảo hộ lao động   đã chết. Theo báo cáo của lãnh đạo huyện Lấp Vò, nguyên nhân ban đầu là do ngạt khí ga.


Sau khi tai nạn xảy ra, Huyện ủy, UBND, MTTQ huyện Lấp Vò và các đoàn thể phối hợp vận động hỗ trợ các gia đình nạn nhân bị nạn.
Cơ quan chức năng tỉnh Đồng Tháp đang tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc.

HỘI THI ATVSV GIỎI NGÀNH THAN LẦN THỨ VIII NĂM 2013 THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

CỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
HỘI THI ATVSV GIỎI NGÀNH THAN LẦN THỨ VIII NĂM 2013 THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP

Trong các ngày từ 23 đến 26/8/2013, tại nhà văn hóa Công ty CP than Núi Béo, Tập đoàn TKV đã tổ chức Hội thi ATVSV giỏi lần thứ VIII, năm 2013. Tới dự có các đồng chí: Hà Tất Thắng - Cục trưởng Cục ATLĐ Bộ LĐTB&XH; Đỗ Thị Lan - Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Quảng Ninh; Đỗ Đình Hiền - Chủ tịch Công đoàn TKV; Phạm Văn Mật - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn, Giám đốc Trung tâm ĐHSX tại Quảng Ninh và các đồng chí lãnh đạo Tập đoàn, Công đoàn TKV, Đảng ủy, Đoàn Than Quảng Ninh.
Sân chơi bổ ích cho người lao động

Ngày 26/8, đại diện Ban tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu kiến thức về an toàn vệ sinh lao động” cho biết, chiều 30/8 sẽ diễn ra cuộc thi “Tìm hiểu kiến thức bảo hộ lao động  về an toàn vệ sinh lao động” do báo Lao động Thủ đô phối hợp với Công đoàn ngành Xây dựng Hà Nội tổ chức.
Một công nhân tử nạn khi khắc phục sạt lở trên Quốc lộ 723
Trưa 26-8, tại công trình khắc phục sự cố sạt lở đường 723, đoạn qua núi Hòn Bồ (TP Đà Lạt, Lâm Đồng), một tai nạn lao động nghiêm trọng đã xảy ra khiến nạn nhân Hoàng Trung Đoàn, sinh 1972, 41 tuổi, quê xã Động Lâm (Hạ Hòa, Phú Thọ) tử vong tại chỗ.

VỤ 2 NỮ CÔNG NHÂN BỊ CHÔN SỐNG

VỤ 2 NỮ CÔNG NHÂN BỊ CHÔN SỐNG
Liên tiếp để xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng, gây chết người nhưng Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng luôn tìm cách bưng bít thông tin và né tránh trách nhiệm trước sinh mạng của người lao động
Thông tin mới nhất liên quan đến vụ tai nạn lao động khiến 2 chị Cao Thị Thảo (SN 1986) và Ngô Thị Lan (SN 1976) bị tai nạn lao động thiệt mạng tại phễu lò hơi Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng vào sáng 9-7, Huyện ủy và UBND huyện Thủy Nguyên, TP Hải Phòng đã yêu cầu cơ quan công an khẩn trương điều tra, khởi tố vụ án, làm rõ trách nhiệm cá nhân có liên quan để xử lý nghiêm.

Nơi xảy ra vụ tai nạn khiến 2 nữ công nhân thiệt mạng tại Nhà máy Nhiệt Điện Hải Phòng
"Cấm cửa" cơ quan chức năng
Trong khi đó, đại diện lãnh đạo Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng cho rằng để xảy ra tai nạn này, trách nhiệm chính thuộc về Công ty CP Xây dựng và Thương mại Hoàng Vỹ (nơi 2 nạn nhân đang làm việc và là đơn vị chịu trách nhiệm dọn dẹp vệ sinh tại Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng - PV). Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng chỉ có một phần trách nhiệm và đã hỗ trợ mỗi gia đình nạn nhân 20 triệu đồng.
Chiều 13-7, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Đỗ Văn Hải, Trưởng Phòng hành chính Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng, khẳng định không có chuyện bưng bít thông tin cũng như việc "cấm cửa" cơ quan chức năng và báo chí thông tin về vụ tai nạn khiến 2 nữ lao động thiệt mạng
.

Ông Hải cho rằng nhà máy không thờ ơ hay đứng ngoài cuộc, khi xảy   bảo hộ lao động   ra tai nạn, lãnh đạo nhà máy đã điều xe đưa nạn nhân đi cấp cứu. Đồng thời, nhà máy cũng đã phong tỏa hiện trường, làm báo cáo nhanh gửi cơ quan chức năng theo đúng quy định.
Lý giải về việc trong chiều 9-7, ông Hải và ông Trần Đức Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nhiệt điện Hải Phòng (cơ quan chủ quản Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng), trả lời báo chí không có xảy ra tai nạn lao động gây chết người, ông Hải cho biết: "Do đến 19 giờ 30 phút ngày 9-7, lãnh đạo đơn vị mới nhận được thông tin 2 nạn nhân đã thiệt mạng từ Công ty CP Xây dựng và Thương mại Hoàng Vỹ".
Tuy nhiên, anh Lại Văn Minh (SN 1972, chồng nạn nhân Lan) và các chị Lại Thị Hạnh (SN 1971), Phạm Thị Hiền (SN 1979), cùng trú thôn 6, xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên, lại khẳng định khi phát hiện và đưa ra khỏi phễu lò hơi, 2 nạn nhân đã tắt thở vì lực lượng cứu hộ phải mất gần 30 phút mới đưa được nạn nhân ra ngoài.
Không chỉ vậy, Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng còn "lơ" báo cáo vụ tai nạn cho chính quyền địa phương. Thậm chí, khi xảy ra vụ việc, trạm Công an Phà Rừng và Công an xã Tam Hưng đến hiện trường để điều tra nguyên nhân thì bị bảo vệ nhà máy "cấm cửa". Trước tình thế này, chiều 9-7, ông Nguyễn Trần Lanh, Chủ tịch UBND huyện Thủy Nguyên, phải điện thoại yêu cầu lãnh đạo nhà máy khẩn trương báo cáo và hợp tác với cơ quan chức năng để điều tra nguyên nhân vụ tai nạn nhưng bất thành.

Đến chiều 10-7, lực lượng chức năng vẫn không được vào nhà máy để điều tra. Vì vậy, Công an huyện Thủy Nguyên phải có văn bản yêu cầu nhà máy hợp tác nhưng đến sáng 11-7, lực lượng công an mới có thể điều tra, khám nghiệm hiện trường. Bức xúc trước thái độ bất hợp tác này, ông Lanh đã yêu cầu Công an huyện Thủy Nguyên lập biên bản việc coi thường pháp luật của nhà máy.
Đã xảy ra nhiều vụ nghiêm trọng
Theo báo cáo của UBND huyện Thủy Nguyên, tai nạn mới nhất khiến 2 nữ công nhân thiệt mạng không phải là vụ tai nạn lao động hy hữu xảy ra tại Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng. Trong hơn 2 năm trở lại đây, tại nhà máy này đã có hơn chục người thương vong do tai nạn lao động,   bao ho lao dong   trong đó có đến 6 người thiệt mạng.

Nghiêm trọng nhất phải kể đến vụ nổ khí tại đây khiến 2 công nhân địa phương chết tại chỗ và 5 công nhân khác bị thương vào sáng 3-8-2010. Trong đó, chị Đỗ Thị Thủy (29 tuổi) và anh Lê Văn Minh (22) bị thiệt mạng trong tình trạng thảm thương. Trước đó, ngày 17-7-2010, tại nhà máy này cũng xảy ra một vụ nổ khiến 2 công nhân nước ngoài thiệt mạng, 2 người khác bị thương.
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Nguyễn Trần Lanh cho biết khi xảy ra tai nạn, lãnh đạo nhà máy luôn tìm cách bưng bít thông tin, thậm chí không trình báo cơ quan chức năng. Tương tự vụ 2 công nhân thiệt mạng vừa rồi, gần đây nhất, ngày 14-5, trong lúc làm việc tại nhà máy, anh Nguyễn Quang Dương (ở thôn Trung, xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên) đã bị cuốn vào ống khói của nhà máy. Dù may mắn thoát chết nhưng nạn nhân phải bị cắt bỏ một phần ống chân và điều trị hơn 1 năm tại bệnh viện. Ông Lanh cho biết khi xảy ra những vụ như vậy, lãnh đạo nhà máy luôn "quên" trình báo cơ quan có thẩm quyền.
Điều đáng ngạc nhiên là xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động nghiêm trọng nhưng nhiều cá nhân có liên quan tại nhà máy này lại không bị xem xét, kiểm điểm trách nhiệm.
Nạn nhân không được huấn luyện an toàn lao động
Theo quy định của ngành điện, công nhân, cán bộ làm việc tại một đơn vị sản xuất điện năng phải được đào tạo cơ bản và cấp chứng nhận. Theo đó, để được làm việc trong nhà máy điện, người lao động phải qua khóa huấn luyện an toàn lao động, sau đó, nếu đạt yêu cầu mới được cấp thẻ làm việc.
Trong khi đó, như Báo Người lao Động đã thông tin, theo người thân của 2 nạn nhân, chị Cao Thị Thảo và chị Ngô Thị Lan là lao động tự do, không có hợp đồng với Công ty CP Xây dựng và Thương mại Hoàng Vỹ nên họ chưa từng được huấn luyện về an toàn lao động.

AN TOÀN LAO ĐỘNG BỊ “LÃNG QUÊN”: ĐÙA VỚI TỬ THẦN

AN TOÀN LAO ĐỘNG BỊ “LÃNG QUÊN”: ĐÙA VỚI TỬ THẦN

- Một thanh niên vừa bị thang máy cuốn chết, hai công nhân và một kỹ sư rơi xuống hồ xử lý chất thải thiệt mạng… Liên tiếp các vụ tai nạn đã xảy ra mà nguyên nhân chính vẫn là việc thờ ơ trước các quy định về an toàn, bảo hộ trong lao động.
Liên tiếp tai nạn lao động thương tâm



Sau vài ngày nghỉ lễ đoàn tụ cùng gia đình, sáng 2/5, anh Hà Quốc Oai (17 tuổi) trở lại cửa hàng chuyên bán bu lông, ốc vít trên đường Ngô Quyền (phường 5, quận 10, TPHCM) để làm việc. Vào thang máy vận chuyển vật liệu từ tầng 5 của cửa hàng xuống phía dưới, khi thang đi đến tầng 4 thì Oai chui đầu ra ngoài, do bất cẩn nhấn nhầm nút điều khiển, Oai đã bị kẹt chặt đầu vào thang máy, gây tử vong tại chỗ.
Đội cứu hộ cứu nạn thuộc Sở CS PCCC công an TP.HCM đã có mặt tại hiện trường dùng máy khoan, cắt sắt để tiếp cận. Mất gần 3 giờ, lính cứu hộ mới đưa được thi thể Oai ra ngoài. Được biết, thiếu niên này mới vào làm việc được khoảng 3 tuần. Sáng 2/5, sau ngày nghỉ lễ Oai trở lại làm việc thì gặp tai nạn
Trước đó, vào trưa 24/4 tại hồ nước thải của công ty thuộc da Hào Dương (Khu công nghiệp Hiệp Phước, xã Long Thới, huyện Nhà Bè) cũng xảy ra vụ tai nạn lao động nghiêm trọng khiến kỹ sư Nguyễn Minh Tuân (29 tuổi, quê Sóc Trăng) và Hà Thanh Tài (24 tuổi, ngụ Long An) và Lê Phát Tài (28 tuổi, quê Long An, cùng là công nhân công ty Hào Dương) chết ngạt.
Cụ thể, khi kỹ sư Tuân và anh Hà bảo hộ lao động  Thanh Tài đang làm việc thì bị ngã xuống hồ xử lý nước thải. Nghe tiếng kêu cứu, anh Lê Phát Tài ở gần đó đã chạy đến, trèo xuống hồ cứu người nhưng cũng bị trượt chân ngã tử vong cùng 2 đồng nghiệp. Qua ghi nhận, hồ xử lý nước thải xảy ra vụ tai nạn lao động trên cao trên 5m, rộng khoảng 200 m2, bên trong chứa nhiều hóa chất bốc mùi nồng nặc rất khó thở. Vào thời điểm thi thể 3 nạn được lính cứu hộ tìm thấy đều không có có bảo hộ lao động.
Một vụ tai nạn lao động kinh hoàng khác cũng đã xảy ra vào đêm 11/3, tại một xưởng tái chế giấy không tên nằm trên đường Vườn Thơm (ấp 4, xã Bình Lợi, huyện Bình Chánh). Nạn nhân là ông Nguyễn Văn Đức (47 tuổi, bảo vệ xưởng). Thời điểm mọi người phát hiện, thi thể ông Đức đã bị cối xay giấy nghiền nát, đứt đoạn.
Còn vô số các vụ tai nạn lao động thảm thương khác gây hậu quả nghiêm trọng, làm ly tán biết bao gia đình.
An toàn lao động bị xem nhẹ, người lao động luôn đứng giữa làn ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết

Khảo sát thực tế, tại địa bàn TP.HCM có đến hàng trăm điểm bán bảo hộ lao động chuyên nghiệp nhưng một nghịch lý lại xảy ra khi nơi đây lại nằm trong “tốp” 10 tỉnh thành xảy ra tai nạn lao động cao nhất cả nước trong năm 2012.
Lý giải về vấn đề trên, theo đánh giá của Thanh tra Sở Lao động thương binh và xã hội TP.HCM, thực tế hiện nay do nhiều doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí nên đã cắt giảm các khâu mua sắm trang thiết bị bảo hộ cho người lao động. Hầu hết các doanh nghiệp khi bị thanh tra đều mắc phải các lỗi như: người lao động làm việc trong môi trường ô nhiễm lại không được trang bị mặt nạ chống độc, không thắt dây an toàn, không đội mũ bảo hộ, không khám sức khỏe định kỳ cho công nhân…Đặc biệt là việc sử dụng lao động thiếu chuyên môn trong lĩnh vực về điện, hàn.
“Bên cạnh việc các doanh nghiệp làm sai thì chính người lao động cũng chủ quan. Khi thấy chủ công ty, doanh nghiệp không trang bị bảo hộ lao động thì không yêu cầu hay trình báo dẫn đến nguy hiểm tính mạng khi làm việc” – Một cán bộ Sở Lao động thương binh và xã hội TP.HCM cho biết.
Điều đáng nói, các doanh nghiệp, công ty hiện nay có khá nhiều hình thức đối phó khi có đoàn thành tra đến. Thậm trên nhiều diễn đàn còn nhan nhản các thông tin như: “Chuẩn bị gì cho đợt thanh tra lao động?” ngay phía dưới là hàng loạt chỉ dẫn từ nhiều người có kinh nghiệm “né” các đoàn thạnh tra.
Những   bảo hộ lao động   nhà xưởng kiểu này, an toàn lao động ở đâu? cũng tại đây, một bảo vệ đã bị cối xay giấy nghiền nát, chết thảm

Thống kê mới đây của Cục An toàn lao động, năm 2012 cả nước xảy ra gần 6.800 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 6967 người bị nạn, làm chết 606 người, bị thương nặng 1470 người, nạn nhân là lao động nữ khoảng 1842 người, thiệt hại về tài sản là 11 tỷ đồng và chi phí bồi thường lên tới 82,6 tỷ đồng. Trong đó, TP.HCM đứng đầu danh sách khi xảy ra 1.568 vụ làm 98 người chết.
Tuy nhiên, trong 552 vụ tai nạn lao động chết người xảy ra trong năm 2012, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được biên bản điều tra của 149 vụ nhưng chỉ có 2 trường hợp người sử dụng lao động bị đề nghị truy tố do vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật về an toàn lao động để xảy ra tai nạn lao động.

CẤM SỬ DỤNG LAO ĐỘNG PHỔ THÔNG LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

CẤM SỬ DỤNG LAO ĐỘNG PHỔ THÔNG LÀ NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

PN - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 102 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật bảo hộ lao động về lao động nước ngoài (LĐNN) làm việc tại Việt Nam.
Theo đó, ngoài năm điều kiện cấp giấy phép lao động đối với người nước ngoài, người LĐNN hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam hoặc làm việc trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề còn phải có  đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam; không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài; được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người LĐNN.

Nghị định nghiêm   cấm sử dụng người LĐNN thực hiện các công việc mà người lao động Việt Nam có khả năng thực hiện và đáp ứng yêu cầu của gói thầu, đặc biệt là lao động phổ thông, lao động không qua đào tạo kỹ năng nghiệp vụ.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/11/2013.

SẠT TA-LUY, MỘT CÔNG NHÂN LẮP CỐNG TỬ NẠN

SẠT TA-LUY, MỘT CÔNG NHÂN LẮP CỐNG TỬ NẠN

 Sạt ta - luy, một công nhân tử nạn

Ta -luy đất cao khoảng 7m đổ ập xuống nhóm công nhân đang thi công cống thoát nước bên dưới, khiến một công nhân tử nạn ngay tại chỗ.

Khoảng 11 giờ, ngày 26/8, ta -luy đất cao khoảng 7m tại công trình khắc phục sự cố sạt lở đường Đà Lạt - Nha Trang (đoạn qua phường 12, TP Đà Lạt) ập xuống nhóm công nhân đang thi công cống thoát nước bên dưới. Hậu quả khiến ông Hoàng Trung Đoàn (41 tuổi, trú tại xã Lộc Nga, TP Bảo Lộc, Lâm Đồng) chết tại chỗ.
Khi ta - luy sập xuống, một số công nhân nhanh chân chạy thoát, riêng ông Đoàn bị sa lầy nên không chạy kịp. Hầu hết công nhân đang thi công công trình trên không có hợp đồng lao động; không được trang bị đồ bảo hộ lao động

SẼ XỬ MẠNH TAY VỚI MŨ BẢO HIỂM DỎM

SẼ XỬ MẠNH TAY VỚI MŨ BẢO HIỂM DỎM

TT - Trả lời Tuổi Trẻ về hiện tượng các đơn vị sản xuất mũ bảo hiểm (MBH) kém chất lượng nhưng vẫn sử dụng tem hợp quy (Tuổi Trẻ ngày 24-8), ông Nguyễn Hoàng Linh - phó vụ trưởng Vụ Đánh giá hợp chuẩn và hợp quy Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng - khẳng định những cơ sở vi phạm nếu bị phát hiện sẽ bị xử phạt nặng.

Chi cục Quản lý thị trường TP.HCM kiểm tra phát hiện hàng ngàn mũ bảo hiểm, mu bao ho lao dong dỏm tại một cơ sở kinh doanh ở Q.Bình Tân (TP.HCM)- Ảnh: Lê Sơn

Ông Linh nói: “Thời gian vừa qua, một số cơ sở sản xuất vi phạm đã bị tước hoặc đình chỉ việc sử dụng giấy chứng nhận hợp quy. Đối với đơn vị chứng nhận có dấu hiệu làm không đúng chức năng nhiệm vụ, tổng cục đang điều tra, xác minh để có hướng xử lý”.
* Việc tổ chức chứng nhận hợp quy đối với MBH thời gian qua tồn tại rất nhiều vấn đề, cơ quan quản lý có nắm được hiện tượng này không, thưa ông?
- Đúng là hoạt động chứng nhận hợp quy đang tồn tại một số vấn đề. Một là tổ chức chứng nhận hợp quy MBH thực hiện chứng nhận không nghiêm túc, không tuân thủ chặt chẽ các quy định hướng dẫn về việc chứng nhận hợp quy nhưng vẫn tiến hành chứng nhận hợp quy cho doanh nghiệp sản xuất MBH. Hai là, các cơ sở cố tình sản xuất các MBH không phù hợp quy chuẩn (MBH kém chất lượng), mặc dù được chứng nhận hợp quy. Nói cách khác, các cơ sở này có thể làm được cả MBH hợp quy và MBH kém chất lượng. Khi chứng nhận thì làm MBH hợp quy nhưng sau đó lại sản xuất các loại MBH kém chất lượng để giảm giá thành, cạnh tranh không lành mạnh.
* Vậy các cơ quan chức năng sẽ làm gì để đưa hoạt động này vào khuôn khổ, đảm bảo người dân không mua nhầm mũ dỏm?

- Tổng cục hiện kiểm tra hoạt động chứng nhận hợp quy MBH của năm tổ chức chứng nhận được chỉ định. Nếu phát hiện có sai phạm, chúng tôi sẽ có biện pháp xử lý thích hợp và công bố công khai trong thời gian tới. Ngoài ra, tổng cục cũng đã có văn bản yêu cầu các tổ chức chứng nhận phải tăng cường công tác giám sát sau chứng nhận (theo quy định tần suất giám sát là sáu tháng/lần) và phải thực hiện lấy mẫu MBH trên thị trường để thử nghiệm nhằm đánh giá tính ổn định về chất lượng của MBH.
Nếu chất lượng không đạt, sẽ xem xét đình chỉ hiệu lực của giấy chứng nhận hợp quy đã cấp. Nếu doanh nghiệp không khắc phục, sẽ xem xét hủy bỏ hiệu lực của giấy chứng nhận hợp quy đã cấp. Tính đến nay đã có bốn giấy chứng nhận hợp quy MBH bị đình chỉ và 11 giấy chứng nhận hợp quy bị hủy bỏ sau khi chúng tôi đánh giá kiểm tra, kiểm soát.
* Quan điểm của ông về đề xuất đưa MBH vào ngành sản xuất, kinh doanh có điều kiện?
- Theo tôi, việc đưa MBH vào danh mục kinh doanh có điều kiện là một giải pháp hữu hiệu nhằm đưa thị trường sản xuất, nhập khẩu cũng như kinh doanh, phân phối MBH đi vào nề nếp, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Bởi qua kiểm tra các doanh nghiệp sản xuất MBH, chúng tôi nhận thấy đa số các doanh nghiệp sản xuất là cơ sở lắp ráp MBH, không có đầy đủ trang thiết bị sản xuất, kiểm tra, thử nghiệm chất lượng MBH (số lượng doanh nghiệp có đầy đủ trang thiết bị sản xuất MBH như máy ép khuôn đúc vỏ mũ, máy ép mút xốp, dây chuyền sơn, lắp ráp là không nhiều).


Đề xuất phạt người đội mũ giả mạo
Ngày 27-8, tại hội thảo “MBH an toàn cho người tiêu dùng”, nhiều ý kiến tiếp tục tranh cãi quanh câu chuyện quản lý chất lượng MBH, xử phạt người tiêu dùng đội mũ không phải MBH...
Phát biểu tại hội thảo, ông Khương Kim Tạo - phó chánh văn phòng Ủy ban An toàn giao thông quốc gia - cho biết cần làm rõ việc xử phạt hay không xử phạt người tiêu dùng đội MBH dỏm. Theo ông Tạo, trong dự thảo nghị định 71 sửa đổi (về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - đường sắt), ủy ban này cũng đề xuất nên xử phạt người tiêu dùng sử dụng mũ không phải MBH dành cho người đi môtô, xe máy (mũ thời trang, mũ nhựa, bảo hộ lao động), chủ yếu dùng để đối phó cảnh sát giao thông. “Nếu không xử phạt thì không dẹp được, vì luật pháp không thể cấm sản xuất loại mũ này nếu họ có đầy đủ giấy phép sản xuất” - ông Tạo nói.
Ông Ngô Bách Phong, chủ tịch Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng TP.HCM, cũng khẳng định việc đội mũ không phải MBH khi đi xe máy là vi phạm và cần phải xử phạt nhằm nâng cao ý thức chấp hành giao thông. Tuy nhiên, để tình hình kinh doanh MBH đi vào nề nếp cần tiếp tục công tác tuyên truyền mạnh mẽ hơn giúp người tiêu dùng ý thức, phân biệt rõ ràng để tránh nhầm lẫn cũng như cương quyết từ bỏ sản phẩm không an toàn khi sử dụng.
Theo Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, vừa qua đơn vị phối hợp với Cục Quản lý thị trường - Bộ Công thương, thanh tra Bộ Khoa học - công nghệ lấy mẫu hàng loạt sản phẩm MBH hợp quy chuẩn lưu hành trên thị trường. Kết quả cho thấy chỉ có khoảng 1/3 số mẫu mũ đạt chất lượng như công bố. Tại hội thảo, các đại biểu cho rằng MBH hợp quy chuẩn nhưng vẫn kém chất lượng là trách nhiệm của các đơn vị kiểm tra kiểm soát từ các khâu chứng nhận hợp quy, kiểm tra thị trường... của cơ quan chức năng.
Ông Đỗ Hữu Quang, phó cục trưởng Cục Quản lý thị trường, cho biết nhiều doanh nghiệp hiện sản xuất MBH không đúng theo chất lượng công bố trước đó. Ngoài ra, các cơ sở được cấp giấy chứng nhận hợp quy vẫn sản xuất hàng kém chất lượng. Cơ sở chỉ được chứng nhận một mẫu nhưng làm nhiều mẫu không đạt chất lượng rồi dán tem đưa ra thị trường. Lượng mũ tạm giữ, tịch thu khoảng 60.000 mũ, phạt vi phạm hành chính gần 1 tỉ đồng. Cũng tại hội thảo, nhiều ý kiến lên tiếng ủng hộ việc sản xuất kinh doanh MBH thành ngành sản xuất, kinh doanh có điều kiện.

CẦN SỬA LUẬT BHXH?

CẦN SỬA LUẬT BHXH?
Để khắc phục tình trạng doanh nghiệp lách luật, trốn đóng BHXH, nên quy định chỉ cần người lao động ký hợp đồng từ đủ 1 tháng trở lên thì phải tham gia BHXH bắt buộc
“Các quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) hiện hành chưa quản lý được đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; tình trạng nợ, chậm đóng BHXH còn phổ biến; quy định về điều kiện hưởng lương hưu, tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ chưa tạo được sự bình đẳng…”. Bà Trần Thị Thúy Nga, Vụ trưởng Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB-XH, nhìn nhận như vậy tại hội thảo lấy ý kiến sửa đổi Luật BHXH vừa tổ chức tại TP HCM.
Người lao động bị thiệt thòi trách nhiệm của ủy ban an toàn lao động.
Theo Vụ BHXH, hiện có rất nhiều doanh nghiệp (DN) lách luật để không phải đóng BHXH cho người lao động (NLĐ) bằng cách ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ 1 tháng đến 2 tháng; sau đó ký tiếp 1 - 2 tháng nữa. Việc làm này khiến quyền lợi của NLĐ thiệt thòi khi bị ốm đau, tai nạn lao động… Liên quan đến quy định xử phạt, ông Bùi Thanh Nhân, Phó Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Bình Dương, cho rằng mức xử phạt theo quy định hiện hành chưa đủ sức răn đe nên DN ngang nhiên vi phạm, chấp nhận xử phạt để trốn đóng BHXH cho NLĐ.


Người lao động trình bày việc doanh nghiệp không đóng BHXH. Ảnh: BẢO NGỌC
Về việc chuyển tiếp thời gian tham gia BHXH trong trường hợp NLĐ có thời gian tham gia công tác liên tục ở khu vực nhà nước trước ngày 1-1-1995 (ngày Bộ Luật Lao động có hiệu lực), luật quy định nếu NLĐ chưa được giải quyết chế độ thôi việc hoặc trợ cấp một lần, trợ cấp xuất ngũ, phục viên thì thời gian đó được tính là thời gian đóng BHXH. Theo các đại biểu, quy định này thực tế gặp nhiều rắc rối như làm sao để xác định NLĐ đã nhận trợ cấp hay chưa nếu các đơn vị trước đã giải thể, sáp nhập…
Quy định về chế độ thai sản cũng được các đại biểu quan tâm. Ông   bao ho lao dong   Bùi Thanh Nhân cho rằng khi lao động nữ sinh con, không có người thân chăm sóc thì đương nhiên người chồng phải chăm sóc, luật không quy định nhưng chắc chắn khi vợ sinh, chồng phải nghỉ việc để chăm sóc vợ, sao không quy định để người chồng được nghỉ trong thời gian này?
Phải sửa đổi
Tuy cũng có ý kiến không  bảo hộ lao động  đồng tình nhưng ông Phạm Trường Giang, Phó Vụ trưởng Vụ BHXH, cho rằng để khắc phục tình trạng DN lách luật trốn đóng BHXH, Luật BHXH sửa đổi quy định chỉ cần NLĐ ký HĐLĐ từ đủ 1 tháng trở lên (trước đây là 3 tháng) thì phải tham gia BHXH bắt buộc. Đại diện BHXH tỉnh Tiền Giang cũng góp ý: Hiện nay luật không đưa chủ sử dụng lao động vào đối tượng bắt buộc tham gia BHXH. Quy định này gây nhiều hệ quả rất thiệt thòi, bất công cho họ.
Một thực tế khác là hiện nay rất nhiều trường hợp NLĐ có đóng BHXH đầy đủ nhưng chủ DN chiếm dụng và chỉ khi DN bỏ trốn hoặc phá sản thì NLĐ mới biết. Các đại biểu cho biết những DN này đa số thuê nhà xưởng hoặc nhà xưởng đã thế chấp ngân hàng. Khi bỏ trốn, ngân hàng vào xiết nợ, không còn tài sản bảo đảm thực hiện quyền lợi cho NLĐ. Bị chiếm đoạt tiền lương, trợ cấp thôi việc, BHXH, NLĐ không biết kêu ở đâu! Nên chăng, luật cần có quy định chặt chẽ hơn về điều này; thậm chí nên thành lập các ngân hàng dự phòng để giải quyết nợ lương, nợ BHXH khi DN bỏ trốn.
Các đại biểu cũng đề nghị đối với quy định chuyển tiếp thời gian tham gia BHXH cho NLĐ nghỉ việc trước năm 1995 mà chưa nhận trợ cấp một lần thì cần đơn giản, dễ thực hiện, không gây khó khăn cho NLĐ. Đặc biệt, đối với quy định “chồng nghỉ hưởng BHXH để chăm sóc vợ sinh con” cũng được nhiều đại biểu tán thành. Các đại biểu cho rằng nên cho phép người chồng được nghỉ ít nhất 1 ngày khi vợ sinh con.
Theo Vụ BHXH, để hạn chế việc DN vi phạm Luật BHXH, ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, DN còn phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng gấp 2 lần lãi suất ngân hàng.

NÊU CAO TÍNH KỶ LUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG TRONG NHÀ XƯỞNG, XÍ NGHIỆP

NÊU CAO TÍNH KỶ LUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG TRONG NHÀ XƯỞNG, XÍ NGHIỆP
Nêu cao tính kỷ luật bảo hộ lao động trong nhà xưởng, xí nghiệp
Phú Yên có đa số người dân hoạt động sản xuất nông nghiệp, người lao động phần đông bị ảnh hưởng thói quen lao động kiểu sản xuất nhỏ; làm việc được đến đâu hay đến đó, thường trông chờ, dựa dẫm thiếu chủ động trong công việc. Phần lớn công nhân lao động xuất thân từ con em nông dân, sau khi học hết phổ thông hoặc nghỉ học giữa chừng, do kinh tế gia đình khó khăn nên không có điều kiện theo học các lớp dạy nghề
Trong sản xuất công nghiệp giờ giấc làm việc là một trong những khâu quan trọng. Để tránh việc công nhân đi làm trễ giờ, ảnh hưởng đến sản xuất, nhiều nhà máy, xí nghiệp tổ chức xe đưa đón công nhân ở xa như: Nhà máy Đường Tuy Hòa (Tucsuco), Công ty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam, Công ty Chế biến song mây xuất khẩu Hòa Hiệp Nam (Rapexco)… bước đầu đã tạo cho người lao động thói quen đi làm đúng giờ.

 Có nhà máy, xí nghiệp khi công nhân ra về, người sử dụng lao động phải dùng thẻ kiểm tra giờ làm việc trước khi rời khỏi nhà máy, xí nghiệp… Có như vậy mới tạo cho người lao động có một ý thức kỷ luật bảo hộ lao động, có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc phải đúng giờ, vận hành thiết bị sản xuất đúng quy trình kỹ thuật. Dần dần hình thành cho người lao động thói quen chấp hành tốt về mặt kỷ luật lao động. Kinh nghiệm nhiều nơi cho thấy, ở đâu thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng và thi đua khen thưởng kịp thời, thưởng phạt nghiêm minh đối với công nhân lao động trong sản xuất công nghiệp, là ở đó có phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… làm lợi cho doanh nghiệp, chống được tư tưởng trông chờ ỷ lại, lao động theo kiểu “được chẳng mừng mất chẳng lo” và những tiêu cực xã hội khác. Một khâu quan trọng không thể không đề cập đến đó là trong sản xuất công nghiệp, phải đảm bảo an toàn lao động và phòng chống cháy nổ. Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp trang bị giày bảo hộ lao động cho người công nhân; trước khi vào nhà máy công nhân lao động phải mặc đồng phục quần áo bảo hộ lao động. Một số xí nghiệp hoạt động trong ngành nghề nặng nhọc thì có trang bị bảo hộ lao động cho người công nhân nhưng do một số công nhân vào mùa hè vì thời tiết nắng nóng, thường trong sản xuất chưa chấp hành tốt an toàn lao động. Đôi lúc công nhân không mặc bao ho lao dong và vận hành dây chuyền thiết bị ẩu không đúng với quy trình sản xuất. Khi có sự cố xảy ra, gây mất an toàn, ảnh hưởng đến tính mạng người lao động và thiệt hại về tài sản của doanh nghiệp..

Tổ chức Công đoàn cơ sở cần sát cánh cùng với giám đốc doanh nghiệp, ngoài việc thực hiện tốt chế độ chính sách cho người lao động như BHXH, BHLĐ… cần thường xuyên giáo dục và rèn luyện cho người công nhân lao động làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp có ý thức về kỷ luật lao động trong công nghiệp. Thực hiện tốt kỷ luật trong sản xuất công nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, đó là một yêu cầu bức thiết trong nền kinh tế hội nhập và phát triển ở nước ta nói chung và tỉnh ta nói riêng trong tình hình hiện nay.

NAM ĐỊNH MỞ RỘNG MÔ HÌNH “GÓC BẢO HỘ LAO ĐỘNG”

NAM ĐỊNH MỞ RỘNG MÔ HÌNH “GÓC BẢO HỘ LAO ĐỘNG”

Mô hình “Góc bảo hộ lao động” được Công đoàn các cấp ở Nam Định triển khai từ năm 2007. Đến nay, hoạt động bảo hộ lao động đã phát huy hiệu quả trong công tác tuyên truyền phòng chống tai nạn lao động, phòng chống cháy nổ, bệnh nghề nghiệp, đảm bảo an toàn cho người lao động.

Làng rèn Quang Trung (Vụ Bản) chuyên sản xuất các dụng cụ kim khí phục vụ nông nghiệp như búa, liềm, dao, xẻng, dũa, máy cán định hình phôi sắt, thép... Làng nghề có gần 600 hộ tham gia với hơn 1.500 lao động (kể cả lao động thời vụ). Do đặc thù ngành nghề, người lao động phải tiếp xúc với những máy móc chuyển động nhanh, tiếng ồn lớn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cao. Lao động tại làng rèn chủ yếu là người dân địa phương, có sức khỏe, tay nghề nhưng ý thức kỷ luật về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) còn hạn chế, dẫn đến nhiều vụ tai nạn lao động xảy ra. Thực hiện sự chỉ đạo của Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Nam Định và LĐLĐ huyện Vụ Bản, năm 2007, xã Quang Trung đã xây dựng mô hình “Góc bảo hộ lao động” tại làng rèn. Mô hình đã mang đến luồng gió mới, với nhiều khởi sắc trong công tác đảm bảo ATVSLĐ cho người lao động.

Theo đó, “Góc bảo hộ lao động” được bố trí tủ, giá đựng tài liệu và các văn bản pháp luật, báo và các loại sách liên quan đến quy trình vận hành máy móc, quy định về kỹ thuật an toàn điện, các văn bản quy định về phòng chống cháy nổ, bàn ghế… “Góc bảo hộ lao động” được tổ chức hoạt động với hình thức định kỳ phổ biến các quy định mới về ATVSLĐ. Xã cũng vận động người sử dụng lao động và người lao động tích cực tham gia sinh hoạt, trao đổi về ATVSLĐ tại “Góc bảo hộ lao động”; trong đó chú ý tuyên truyền, phổ biến trách nhiệm của người lao động, chủ sử dụng lao động trong bảo đảm ATVSLĐ, xử lý tai nạn lao động… Qua sách báo, tạp chí, góc tuyên truyền trang bị thêm nhiều thông tin hữu ích về ATVSLĐ cho người lao động. Từ những vụ tai nạn lao động đã xảy ra, người lao động rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân. Bên cạnh đó, hằng năm, xã phối hợp với các đoàn thể mở các lớp tập huấn về ATVSLĐ để người lao động hiểu rõ trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo ATVSLĐ. Mỗi năm “Góc bảo hộ lao động” thu hút hàng trăm lượt người đến tìm hiểu, đọc các loại sách báo, tạp chí về ATVSLĐ. Xã cũng phát động phong trào “Xanh, sạch, đẹp, bảo đảm ATVSLĐ”, 100% lao động của làng nghề ký cam kết tham gia sinh hoạt mô hình. Nhờ vậy, những năm gần đây, làng rèn Quang Trung không xảy ra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng.


Từ mô hình “Góc bảo hộ lao động” tại xã Quang Trung, đến nay, LĐLĐ tỉnh Nam Định đã hướng dẫn các cấp Công đoàn xây dựng hàng chục mô hình “Góc bảo hộ lao động”, tiêu biểu như Công ty TNHH MTV Kinh doanh nước sạch Nam Định, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Vụ Bản, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Anh, Cụm công nghiệp An Xá (TP.Nam Định), Xí nghiệp May Nhật Hồng, Cụm công nghiệp Xuân Tiến (Xuân Trường), Công ty TNHH May Deajang, Cụm công nghiệp Nghĩa Sơn (Nghĩa Hưng). Đây là những cơ sở sản xuất có đông lao động; điều kiện lao động nặng nhọc, nguy hiểm, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, vì vậy việc cung cấp thông tin, tuyên truyền về ATVSLĐ cho người lao động là yêu cầu cấp thiết. “Góc bảo hộ lao động” được các đơn vị bố trí tại những vị trí thuận tiện cho việc tiếp cận, được trang bị đầy đủ vật dụng phục vụ công tác tuyên truyền, tìm hiểu pháp luật về ATVSLĐ; thiết thực, phù hợp với đặc thù của từng ngành nghề sản xuất tại từng cơ sở như: Quyền và nghĩa vụ của người lao động; nội quy, quy chế làm việc an toàn của cơ sở; các yếu tố nguy hiểm, có hại trong quá trình lao động, biện pháp khắc phục, ngăn ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; thông báo tình hình tai nạn lao động, sự cố nguy hiểm để rút kinh nghiệm; thông báo kết quả kiểm tra bao ho lao dong ở cơ sở… Các nội dung này được thể hiện bằng tranh, ảnh, mô hình, pa-nô, áp phích, bảng tin; các tài liệu như tạp chí liên quan đến công tác ATVSLĐ và bảo vệ môi trường, tài liệu tập huấn, hướng dẫn, các văn bản pháp quy, các quy chuẩn, tiêu chuẩn liên quan đến các loại phương tiện bảo vệ cá nhân…

Đến nay, mô hình “Góc bảo hộ lao động” ở các đơn vị đều hoạt động hiệu quả, góp phần tuyên truyền về ATVSLĐ cho hàng nghìn lao động, đoàn viên công đoàn. Nhờ đó, người lao động đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ, nâng cao ý thức chấp hành nội quy lao động và vận hành máy móc an toàn; sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân thường xuyên và đúng cách; nghiêm túc thực hiện nội quy, quy trình, quy phạm về ATVSLĐ khi làm việc ở nơi có yêu cầu nghiêm ngặt; có ý thức quan sát biển báo, biển cấm, không đi vào vùng nguy hiểm. Ở những nơi không đảm bảo an toàn lao động, người lao động đưa ra những đề xuất, giải pháp hiệu quả, vừa đảm bảo sản xuất, giảm nhẹ sức lao động, vừa tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho người lao động. Mặt bằng sản xuất được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, góp phần loại trừ các yếu tố gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Điều kiện làm việc của người lao động được cải thiện. Tại các doanh nghiệp có tổ chức “Góc bảo hộ lao động”, những năm gần đây, tần suất tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp giảm rõ rệt; không có trường hợp tai nạn lao động nặng gây tử vong.

Nam Định hiện có trên 100 làng nghề, 3 khu công nghiệp, 20 cụm công nghiệp đang hoạt động, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động. Để đảm bảo giữ gìn ATVSLĐ, thời gian tới, LĐLĐ tỉnh tiếp tục chỉ đạo LĐLĐ các huyện, thành phố phát huy hiệu quả hoạt động thiết thực của mô hình“Góc bảo hộ lao động”, từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng ra toàn tỉnh.

NÊU CAO TÍNH KỶ LUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG TRONG NHÀ XƯỞNG, XÍ NGHIỆP

NÊU CAO TÍNH KỶ LUẬT BẢO HỘ LAO ĐỘNG TRONG NHÀ XƯỞNG, XÍ NGHIỆP

Nêu cao tính kỷ luật bảo hộ lao động trong nhà xưởng, xí nghiệp
Phú Yên có đa số người dân hoạt động sản xuất nông nghiệp, người lao động phần đông bị ảnh hưởng thói quen lao động kiểu sản xuất nhỏ; làm việc được đến đâu hay đến đó, thường trông chờ, dựa dẫm thiếu chủ động trong công việc. Phần lớn công nhân lao động xuất thân từ con em nông dân, sau khi học hết phổ thông hoặc nghỉ học giữa chừng, do kinh tế gia đình khó khăn nên không có điều kiện theo học các lớp dạy nghề.
Trong sản xuất công nghiệp giờ giấc làm việc là một trong những khâu quan trọng. Để tránh việc công nhân đi làm trễ giờ, ảnh hưởng đến sản xuất, nhiều nhà máy, xí nghiệp tổ chức xe đưa đón công nhân ở xa như: Nhà máy Đường Tuy Hòa (Tucsuco), Công ty TNHH Công nghiệp KCP Việt Nam, Công ty Chế biến song mây xuất khẩu Hòa Hiệp Nam (Rapexco)… bước đầu đã tạo cho người lao động thói quen đi làm đúng giờ. Có nhà máy, xí nghiệp khi công nhân ra về, người sử dụng lao động phải dùng thẻ kiểm tra giờ làm việc trước khi rời khỏi nhà máy, xí nghiệp… Có như vậy mới tạo cho người lao động có một ý thức kỷ luật bảo hộ lao động, có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc phải đúng giờ, vận hành thiết bị sản xuất đúng quy trình kỹ thuật. Dần dần hình thành cho người lao động thói quen chấp hành tốt về mặt kỷ luật lao động. Kinh nghiệm nhiều nơi cho thấy, ở đâu thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng và thi đua khen thưởng kịp thời, thưởng phạt nghiêm minh đối với công nhân lao động trong sản xuất công nghiệp, là ở đó có phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm… làm lợi cho doanh nghiệp, chống được tư tưởng trông chờ ỷ lại, lao động theo kiểu “được chẳng mừng mất chẳng lo” và những tiêu cực xã hội khác. Một khâu quan trọng không thể không đề cập đến đó là trong sản xuất công nghiệp, phải đảm bảo an toàn lao động và phòng chống cháy nổ. Phần lớn các nhà máy, xí nghiệp trang bị giày bảo hộ lao động cho người công nhân; trước khi vào nhà máy công nhân lao động phải mặc đồng phục quần áo bảo hộ lao động. Một số xí nghiệp hoạt động trong ngành nghề nặng nhọc thì có trang bị bảo hộ lao động cho người công nhân nhưng do một số công nhân vào mùa hè vì thời tiết nắng nóng, thường trong sản xuất chưa chấp hành tốt an toàn lao động. Đôi lúc công nhân không mặc bao ho lao dong và vận hành dây chuyền thiết bị ẩu không đúng với quy trình sản xuất. Khi có sự cố xảy ra, gây mất an toàn, ảnh hưởng đến tính mạng người lao động và thiệt hại về tài sản của doanh nghiệp...

Tổ chức Công đoàn cơ sở cần sát cánh cùng với giám đốc doanh nghiệp, ngoài việc thực hiện tốt chế độ chính sách cho người lao động như BHXH, BHLĐ… cần thường xuyên giáo dục và rèn luyện cho người công nhân lao động làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp có ý thức về kỷ luật lao động trong công nghiệp. Thực hiện tốt kỷ luật trong sản xuất công nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, đó là một yêu cầu bức thiết trong nền kinh tế hội nhập và phát triển ở nước ta nói chung và tỉnh ta nói riêng trong tình hình hiện nay.
AI NẠN LAO ĐỘNG Ở THỪA THIÊN HUẾ LÀM MỘT NGƯỜI CHẾT, MỘT NGƯỜI BỊ THƯƠNG NẶNG

Tai nạn lao động ở Thừa Thiên Huế làm một người chết, một người bị thương nặng
NDĐT- Một vụ tai nạn lao động nghiêm trọng đã xảy ra vào lúc 15 giờ 40 phút chiều 5-8 tại công trình xây dựng Nhà máy xi măng Đồng Lâm, thuộc xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, làm một người chết ngay tại chỗ và một người bị thương nặng đang cấp cứu tại bệnh viện.


Chiều 6-8, Thanh tra Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, nạn nhân bị chết là anh Đỗ Nhật Trường (SN 1987), trú tại xã Phong Sơn, huyện Phong Điền (Thừa Thiên - Huế) và người bị thương nặng là ông Nguyễn Công Tuyết (SN 1958), trú tại Thanh Hóa bị vỡ đốt sống lưng.
Đây là hai công nhân lao động thuộc Công ty CP Đầu tư Tài chính & Bất động sản Việt (VIET-INC).
Theo cơ quan điều tra, tại hiện trường công trình trước thời điểm xảy ra tai nạn, ba công nhân có tên là Nguyễn Công Tuyết, Đỗ Nhật Trường và Đỗ Phương Linh thực hiện công việc nâng đốt vận thăng ở độ cao 24m.
Sau khi kết thúc công việc, anh Đỗ Nhật Trường và ông Nguyễn Công Tuyết sử dụng vận thăng để đi xuống, anh Đỗ Phương Linh điều khiển vận thăng. Tuy nhiên, khi đi xuống được khoảng 1/3 quãng đường thì vận thăng bị kẹt cáp, dẫn đến đứt cáp, rơi từ trên cao xuống mặt đất, khiến anh Trường chết ngay tại chỗ và ông Tuyết bị thương nặng.
Hiện tại, nạn nhân Nguyễn Công Tuyết đang được cấp cứu tích cực tại Bệnh viện T.Ư Huế.
Theo cơ quan chức năng, nguyên nhân gây ra vụ tai nạn lao động là do thực hiện không đúng quy trình về an toàn lao động, bảo hộ lao động, dây đai an toàn lao động.
Hiện, các cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc.

Căng thẳng vì mọi thứ ...tăng giá

Căng thẳng vì mọi thứ ...tăng giá

Xăng, dầu, gas, điện…xếp hàng tăng giá đang chất chồng thêm khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điều này cũng làm giảm đi ý nghĩa hỗ trợ doanh nghiệp (DN) mà Chính phủ và các địa phương đang cố thực hiện.
Từ các DN lớn cho đến người tiểu thương đều cùng chung nỗi lo hàng hóa tăng giá trong khi sức mua yếu kéo dài. DN căng thẳng vì chi phí sản xuất bị đội lên khi giá sản phẩm đầu ra khó mà tăng thêm do đơn hàng sụt giảm, nhà kinh doanh thì lo mất doanh thu vì vắng khách.
* Đã ế, lại càng ế
Theo ban quản lý các chợ tại TP. Biên Hòa, sức mua hiện đang giảm mạnh ở tất cả các nhóm hàng. “Tình hình kinh doanh sẽ còn ảm đạm hơn khi mùa chay tháng 7 bắt đầu” - bà Hoa, tiểu thương tại chợ Hóa An (TP.Biên Hòa) dự đoán. Chính vì vậy, tình trạng thị trường thực phẩm “tát nước theo mưa”, đua theo giá xăng, dầu, điện chưa xảy ra. Dù vậy, một số mặt hàng vẫn âm thầm leo thang, giá tăng tập trung ở nhóm hàng thiết yếu, như: sữa, gạo, dầu ăn…
Giá hàng hóa tăng ảnh hưởng đến  bán ra của tiểu thương. (Ảnh chụp tại chợ Biên Hòa).
Giá hàng hóa tăng ảnh hưởng đến bán ra của tiểu thương. (Ảnh chụp tại chợ Biên Hòa).
Bà Huỳnh Thị Thu Thảo, Phó giám đốc nhà hàng Sen Vàng (TP.Biên Hòa), cho biết giá thực phẩm đang dao động nhẹ với mức tăng từ 2-3%, riêng hải sản tăng khoảng 10%. Giá điện vừa tăng, nhà hàng đã thực hiện tiết kiệm điện, tính toán chặt chẽ khâu đầu vào để nỗ lực giữ ổn định giá dịch vụ ăn uống.
Để vực doanh số trong giai đoạn ế ẩm hiện nay, các siêu thị, trung tâm thương mại đua nhau chạy chương trình khuyến mãi. Cụ thể, các siêu thị BigC, Co.opMart, Vinatex… đều giảm giá lớn cho hàng loạt mặt hàng, từ thực phẩm tươi sống, chế biến đến đồ gia dụng, quần áo, hóa mỹ phẩm. Nhiều siêu thị, trung tâm điện máy, điện tử…cũng đua nhau giảm giá “khủng” nhằm thu hút người mua.

* Dồn thêm khó cho doanh nghiệp
“Có những sản phẩm của DN này là nguyên liệu của DN kia, khi điện tăng giá sẽ gây ra tác động tăng dây chuyền chứ không còn tăng đơn lẻ theo từng  DN”, chủ một DN chế biến thực phẩm ở phường Hố Nai (TP.Biên Hòa) ngán ngẩm nói. Theo vị giám đốc này thì giá xăng dầu vừa tăng xong lại đến giá điện tăng, chắc chắn DN “lãnh đủ”, bởi giá xăng dầu và điện tác động đến giá thành sản phẩm rất lớn.
Cùng quan điểm đó, ông Trần Văn Thành, Giám đốc DN tư nhân Kiến Phúc (xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom), chuyên làm hàng gỗ xuất khẩu, tính toán mỗi tháng DN ông phải trả 100 triệu đồng tiền điện, sắp tới rất lo khi phải tăng thêm chi phí tiền điện. Vấn đề không dừng lại ở đó, ông Thành lo ngại giá cả nguyên liệu đầu vào sẽ tăng trong khi các hợp đồng của ông không thể tăng được giá bán sản phẩm. “Hiện tại đang là mùa thấp điểm của ngành chế biến gỗ xuất khẩu, các DN chỉ có hàng làm cầm chừng, nên việc đội chi phí sản xuất sẽ gây ra nhiều khó khăn” - ông Thành chia sẻ.
Sau khi có thông báo tăng giá điện, ông NGUYỄN TIẾN LỘC, Phó Giám đốc Công ty bao ho lao dong - Dệt Quang Trung, chuyên sản xuất Lưới xây dựng và đồ bảo hộ lao động (Tại Phú Xuyên) đã lên kế hoạch cắt giảm sản xuất. Hiện mỗi tháng, Công ty đang kéo 57 tấn nhự HDPE để phục vụ công trình xây dựng và dự kiến sẽ giảm xuống còn 40 tấn do giảm sản xuất vào giờ cao điểm để tiết giảm tiền điện. Trung bình 1 tháng, Công ty phải trả 80-90 triệu đồng tiền điện, như vậy với mức tăng giá điện 5% thì hàng tháng, DN này phải “móc túi” thêm một khoản nữa.

KHẮC PHỤC SỰ CỐ TAI NẠN LAO ĐỘNG HẦM LÒ TẠI QUẢNG NINH

KHẮC PHỤC SỰ CỐ TAI NẠN LAO ĐỘNG HẦM LÒ TẠI QUẢNG NINH
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa yêu cầu UBND tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương khắc phục hậu quả sự cố tai nạn lao động tại khu Đồng Vông, tổ chức an táng chu đáo cho người bị nạn và thăm hỏi, hỗ trợ gia đình bị nạn; đồng thời làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm theo quy định pháp luật.

Trước đó, vào khoảng thời gian ca 3 (từ 24h00 ngày 30/7 đến 6h00 ngày 31/7), tại vỉa 6, thuộc Công ty TNHH 1 TV Than Đồng Vông (Công ty Than Uông Bí) đã xảy ra vụ tai nạn lao động làm 3 công nhân thiệt mạng.

Sau khi vụ việc xảy ra, các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ninh đã trực tiếp đến hiện trường nơi xảy ra tai nạn để chỉ đạo, phối hợp với Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam trong việc đưa nạn nhân ra khỏi khu vực tai nạn và điều tra, xác định nguyên nhân. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do bị ngạt khí trong hầm lò.
Ngay sau khi nhận được thông tin, đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh đã kịp thời động viên và hỗ trợ gia đình 3 công nhân thiệt mạng. UBND tỉnh Quảng Ninh đã hỗ trợ mỗi nạn nhân 6 triệu đồng và thành phố Uông Bí hỗ trợ 5 triệu đồng.

PHI CÔNG NGA NHẢY DÙ AN TOÀN KHI CÓ ÁO BẢO HỘ LAO ĐỘNG TỪ ĐỘ CAO 23KM

PHI CÔNG NGA NHẢY DÙ AN TOÀN KHI CÓ ÁO BẢO HỘ LAO ĐỘNG TỪ ĐỘ CAO 23KM

Tổ hợp nghiên cứu và phát triển Ngôi sao của Nga đang phát triển bộ quần áo bảo hộ lao động trang bị cho phi công điều khiển chiến đấu cơ thế hệ 5 PAK FA, đó là tuyên bố của phó giám đốc phụ trách thiết kế của tổ hợp này, Nicholas Dergunov.
Áo bảo hộ giúp phi công Nga nhảy dù từ độ cao…23km

Mẫu thử T-50-4 của chương trình PAK FA.
Theo giới thiệu của nhà sản xuất, bộ đồ bảo hộ lao động trên có thể giúp phi công chịu được gia tốc trọng lực (lực G) tới 9G trong 30 giây và khả năng nhảy dù an toàn từ độ cao 23km.
Bộ đồ bảo hộ trên được cấu thành từ thiết bị kháng áp PPK-7 được thiết kế để hoạt động trên độ cao 12km và thiết bị VKK-17 đảm bảo duy trì hỗ trợ sự sống cho phi công trên độ cao 23km. Ngoài ra, bộ đồ bảo hộ mới cũng được trang bị hệ thống chống xẹp phổi (điểm yếu trên các bộ đồ của phi công lái F-22 hiện chưa được khắc phục) và được may từ vật liệu chịu nhiệt. Dự kiến, bộ đồ bảo hộ trên sẽ được thử nghiệm trong thời gian tới trên 3 mẫu thực nghiệm T-50 của PAK FA.
Để đảm bảo khả năng kháng áp ở độ cao lớn, vật liệu chế tạo bộ đồ bảo hộ mới trên chiến đấu cơ PAK FA cần được may theo cách đặc biệt. Nó phải đảm bảo sự sống của phi công khi buộc phải nhảy dù thoát hiểm ở độ cao lớn và khi ghế phóng hoạt động. Ngoài ra, để giúp phi công hoạt động dễ dàng, bộ đồ trên cũng có các túi khí làm mát. Việc kết nối các thành phần của áo bao ho lao dong mới sử dụng máy cao áp AD-17. Hệ thống trên giúp duy trì áp suất không khí ổn định trong bộ đồ, đảm bảo phi công không bị bất tỉnh khi máu không được bơm đủ lên não. Ngoài ra, hệ thống còn tăng áp lực oxygen lên mặt nạ phi công và tạo áp lực khí để tránh tình trạng xẹp phổi xảy ra. Trong trường hợp cần thiết, áp suất dưỡng khí cung cấp cho phi công có thể đạt 6-7 at. Đảm bảo cho áo bảo hộ hoạt động “hoàn hảo”, toàn bộ quy trình của nó đều do máy tính điều khiển.
Ngoài bộ đồ bảo hộ lao động trên, phi công lái PAK FA còn được trang bị hệ thống thu hồi chất thải PJ-1, giúp việc vệ sinh cá nhân của phi công có thể thực hiện ngay trên máy bay. Hiện, toàn bộ trang bị hỗ trợ phi công trên PAK FA vẫn đang trong quá trình thử nghiệm.

KHÔNG SỬ DỤNG THIẾT BỊ BẢO HỘ LAO ĐỘNG BỊ NHIỄM "GIUN"

KHÔNG SỬ DỤNG THIẾT BỊ BẢO HỘ LAO ĐỘNG BỊ NHIỄM "GIUN"

Chạm đất khi không sử dụng găng tay bảo hộ lao động... vô tình nhiễm giun lươn

Trường hợp anh Viết Điền, 42 tuổi ngụ tại ấp 6, xã Minh Lập tỉnh Bình Phước bị nhiễm giun đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của mọi người bởi lẽ anh đang vô cùng khỏe mạnh hơn 70 cân bỗng một ngày da mặt bỗng đen sạm, toàn thân da bị lột thành từng mảng, cân nặng bị sụt giảm nghiêm trọng còn 30 cân.

Sau khi tiến hành hàng loạt xét nghiệm, các bác sĩ mới phát hiện ra anh bị nhiễm 4 loại ký sinh trùng, chúng chính là nguyên nhân phá hoại cơ thể anh tới mức này. 4 loại ký sinh trùng gồm: Amip lỵ, giun lươn, giun đũa, sán.

Gần đây hơn là trường hợp nhiễm giun của bệnh nhân Lê Lan, 41 tuổi ngụ tại Khương Đình, Hà Nội. Chị vào viện trong tình trạng chân tay có hiện tượng xuất huyết, ký sinh trùng bò dưới da. Công việc của chị Lan thường xuyên phải tiếp xúc với đất, vật nuôi, nhưng chị thường tiếp xúc trực tiếp không bao giờ dùng găng tay bảo hộ lao động. Đó chính là nguyên nhân khiến trứng của những con ấu trùng sống trong đất chui thẳng vào da và ký sinh trong cơ thể chị.

Đinh Thị Nh., 24 tuổi, ở Quỳnh Lưu, Nghệ An cũng là một trong những bệnh nhân bị giun lươn cư trú trong cơ thể. Chị nhập viện trong tình trạng người mệt mỏi, lơ mơ, mê sảng, sốt, đau buốt vùng não… Được biết nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiễm giun của chị là do ăn hải sản chưa chín kỹ.

Để có thể xác định chính xác sự có mặt của giun lươn trong cơ thể hay không thì người bệnh cần phải được tiến hành xét nghiệm phân phòng bệnh hơn chữa bệnh

Trả lời về vấn đề này, Thạc sĩ - Bác sĩ Huỳnh Hồng Quang, Trưởng khoa nghiên cứu lâm sàng và điều trị bệnh nhiệt đới (Viện Sốt rét ký sinh trùng, côn trùng Quy Nhơn) cho biết, tử vong do nhiễm giun là hiếm gặp nhưng một khi có sự xâm nhập của giun lươn vào người thì bệnh nhân sẽ gặp rất nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm cơ tim, viêm màng não hoặc viêm phổi nặng…

Khi giun lươn thâm nhập vào cơ thể, chúng gây ra những tác hại khôn lường: ấu trùng giun lươn đi xuyên qua da, có thể vào trực tiếp các mao mạch, khi vào đến mao mạch, bằng nhiều con đường khác nhau, chúng gây ra những ảnh hưởng tới sức khỏe là khác nhau.

Từ mao mạch phổi, chúng di chuyển dọc tới các phế nang, đến khí quản, đến thực quản và ruột non, tại ruột non chúng trưởng thành. Chúng có thể gây viêm phổi, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, gây tổn thương niêm mạc ruột và tiêu chảy, ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương, gây nhiễm trùng đường huyết. Chu trình tự nhiễm có thể gây khó chịu và viêm nhiễm tại chỗ hoặc lan tỏa tới toàn thân người bệnh.

Mặc dù, hiện nay các chuyên gia trên thế giới đã phát hiện và liệt kê ra được rất nhiều loại giun lươn có khả năng gây bệnh cho người và vật nuôi, song hầu hết bệnh nhiễm giun lươn chủ yếu là do loài Strongyloides stercoralis gây nên.

Người bệnh nhiễm ký sinh trùng giun lươn mạn tính với loại Strongyloides stercoralis thường không có triệu chứng, biểu hiện gì cụ thể nhưng nếu để đến khi xuất hiện triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã nặng vì vậy nên sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động để bảo vệ chính bạn.

Khi nhiễm ký sinh trùng giun lươn, người bệnh sẽ có những triệu chứng bất thường gặp chủ yếu ở hệ tiêu hóa, người bệnh có cảm giác trướng bụng, khó tiêu, sôi bụng ậm ạch. Nhiều bệnh nhân có biểu hiện ấu trùng giun lươn di chuyển quanh vùng hậu môn, bắp tay, mắt, ho, thở ngắn…

Để có thể xác định chính xác sự có mặt của vị “khách không mời” này hay không thì người bệnh cần phải được tiến hành xét nghiệm phân tuy nhiên, điều này không đơn giản vì lượng giun đường ruột khá thấp, không có hội chứng tăng nhiễm thì lại càng khó phát hiện và điều trị hơn. Thêm vào đó triệu chứng nhiễm bệnh mơ hồ khiến nhiều bác sĩ ví dụ bác sĩ tiêu hóa và da liễu đôi khi còn bị nhầm lẫn.

Để có thể điều trị tận gốc nhiễm giun lươn thì phương cách làm ngăn ngừa hội chứng tăng nhiễm và biến chứng nghiêm trọng trên các bệnh nhân này được bác sĩ quan tâm hơn cả. Việc phát hiện, chẩn đoán sớm, đúng loại ký sinh trùng vô cùng quan trọng, nếu không kịp thời có thể gây nguy hiểm tới tính mạng.

Con đường đi của ấu trùng giun lươn khó đoán định, chúng có thể di chuyển khắp nơi trong cơ thể người, nhiều bệnh nhân thấy nó di chuyển ở mô dưới da là như vậy, chúng để lại các vết mẩn đỏ dưới da. Khi bệnh bị biến chuyển thành dạng nặng, người bệnh bị suy giảm hệ miễn dịch nhanh chóng như: đái tháo đường, suy dinh dưỡng, suy gan, suy thận, tắc ruột,… Mức độ bệnh tùy thuộc độ tự nhiễm của giun ký sinh tới mực nào.

Sự di chuyển của chúng sẽ dẫn tới những biến chứng khôn lường. Giun lươn có thể đi thẳng lên hệ thống thần kinh trung ương gây viêm não, xuất huyết não: trường hợp này nếu không được điều trị kịp thời bệnh nhân dễ tử vong. Giun lươn có thể ẩn nấp trong hệ hô hấp gây nên những bệnh như viêm phổi, thở khó, xuất huyết phổi…

Bác sĩ Hồng Quang nhấn mạnh việc tuyên truyền, nâng cao ý thức phòng bệnh nhiễm giun sán nói chung và giun lươn nói riêng là vô cùng quan trọng.

Mọi người cần vệ sinh nhà cửa, nhà vệ sinh, xây dựng ý thức vệ sinh thân thể tốt: rửa tay sạch trước và sau khi ăn, đi vệ sinh, đi làm về. Ăn uống phải luôn tuân thủ vệ sinh an toàn thực phẩm, ăn chín uống sôi, không ăn đồ ăn không hợp vệ sinh, lưu cữu lâu ngày, không ăn rau sống chưa rửa sạch. Định kỳ thăm khám, kiểm tra sức khỏe, tẩy giun định kỳ 2 lần/năm.

Khi tiếp xúc với đất, với vật nuôi, mọi người cần sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động như gang tay bao ho lao dong, giày bảo hộ lao động chuyên dụng. Người có những biểu hiện nghi ngờ bị nhiễm giun lươn nên đến khám chuyên khoa ký sinh trùng càng sớm càng tốt để kịp thời chữa trị. Ngoài ra, tránh ăn hải sản sống nếu hải sản đó không được mua ở nguồn có kiểm định. Bên cạnh đó, mọi người nên chủ động nâng cao sức đề kháng cơ thể, ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi, luyện tập thể dục thể thao hàng ngày... để tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể.