An Toàn Lao Động

An Toàn Lao Động

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Các biện pháp bảo hộ lao động tốt, tránh được những tác hại từ môi trường


Các biện pháp bảo hộ lao động tốt, tránh được những tác hại từ môi trường.
 Những tác nhân không đảm bảo an toàn vệ sinh trong lao động
Trong thời đại hiện nay. Tất cả mọi thứ phát triển kéo theo không ít những tác nhân của nó. Hàng năm theo thống kê có hàng chục ngàn tai nạn lao động xảy ra mà nguyên nhân chính là do khâu trang bị bảo hộ lao động chưa được tốt. Những đơn vị công tác không hoàn thành trách nhiệm của mình trong việc bảo hộ lao động cho công nhân của mình.


a. Các biện pháp tổ chức:

+ Những biện pháp liên quan đến nâng cao ý thức, hiểu biết và nhận thức của con người (như đào tạo, huấn luyện cho người lao động, NSDLĐ..);

+ Tổ chức dây chuyền công nghệ; xây dựng các quy trình, hướng dẫn vận hành an toàn  thiết bị bảo hộ lao động, nội quy sản xuất;

+ Tổ chức lao động khoa học (bố trí thời giờ làm việc, nghỉ ngơi hợp lí ;


b. Các biện pháp kĩ thuật an toàn:

-Sử dụng máy, thiết bị, công nghệ an toàn thay cho các máy, thiết bị, công nghệ không an toàn;

-Sử dụng che chắn an toàn: bao che, rào chắn;

-Sử dụng cơ cấu, thiết bị an toàn, thiết bị phòng ngừa: van an toàn của nồi hơi, thiết bị áp lực, aptomat, cầu chì ở các thiết bị điện...;

-Khoảng cách AT: Không vi phạm khoảng cách AT đã quy định, không vi phạm hành lang AT điện cao thế...;

-Tín hiệu, dấu hiệu phòng ngừa: tín hiệu âm thanh, màu sắc, ánh sáng; các dấu hiệu, biển báo an toàn...;

-Cơ giới hóa, tự động hóa: để người làm việc ngoài vùng nguy hiểm, giảm nhẹ sức lao động, chống mệt mỏi;

-Bảo dưỡng, Sửa chữa phòng ngừa, kiểm nghiệm dự phòng đối với máy, thiết bị;

-Sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, dụng cụ an toàn;

c- Các biện pháp vệ sinh lao động:

+ Đảm bảo tiện nghi cho người lao động khi làm việc với máy, thiết bị; dủ ánh sáng,

+ Đảm bảo điều kiện vi khí hâu nơi làm việc;

+ Đảm bảo yếu tố tâm, sinh lí lao động.

d- Các biện pháp chăm sóc sức khỏe:

+ Khám sức khoẻ định kì, khám phát hiện BNN;

+ Điều trị, điều dưỡng tại chỗ;

+ Tổ chức bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật.

Việc làm kỹ sư bảo hộ lao động

Việc làm kỹ sư bảo hộ lao động
Đáp ứng nhu cầu cấp thiết về vấn đề nhân lực cho công tác bảo hộ lao động trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, nước ta đã triển khai và đưa vào nội dung chương trình đào tạo một số trường đại học khoa bảo hộ lao động, nhằm xây dựng một đội ngũ kỹ sư bảo hộ lao động có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có sức khỏe tốt và có kiến thức về an toàn vệ sinh lao động. Đội ngũ đó không chỉ có kĩ năng điều tra, phân tích đánh giá tổng quát về môi trường lao động, đề xuất các giải pháp công nghệ đảm bảo vệ sinh môi trường lao động, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, mà còn có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu, tiếp thu được khoa học và công nghệ mới.

Việc làm của những kỹ sư bảo hộ lao động

Hiện nay, nhu cầu về đội ngũ kỹ sư bảo hộ lao động là rất lớn xuất phát từ các doanh nghiệp, các đơn vị, tổng công ti nhà nước, các doanh nghiệp liên doanh nước ngoài,…Nhu cầu cao nhưng do công tác đào tạo vẫn còn hạn chế, có thể nói cầu thì nhiều nhưng cung thì rất ít dẫn đến thực trạng thị trường việc làm kỹ sư bảo hộ lao động luôn rất nóng. Do đặc thù công việc nặng nhọc, độc hại, gắn liền với các dây chuyền sản xuất nên các kỹ sư nam dường như được nhà tuyển dụng ưu ái hơn các kỹ sư nữ. Thực tế, số trường đào tạo ngành nghề này là rất ít và số lượng tuyển sinh và đào tạo của các trường cũng không lớn mà các doanh nghiệp rất cần thiết phải có cán bộ chuyên trách về bảo hộ lao động nên việc thiếu hụt nhân sự gây ra rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, khi Việt Nam gia nhập WTO, tất cả các doanh nghiệp muốn hội nhập hàng hóa và xuất khẩu buộc phải vượt qua 3 hàng rào tiêu chuẩn là quy chuẩn ISO về chất lượng, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh lao động. Do đó, nhu cầu về kỹ sư bảo hộ lao động càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Chính vì đặc thù của ngành nghề cũng như yêu cầu từ phía các doanh nghiệp, có thể nói, việc làm kỹ sư bảo hộ lao động đang trở nên cần thiết và luôn trong tình trạng thiếu hụt. Để khắc phục tình trạng này, cần có những biện pháp mở rộng quy mô đào tạo để tăng nguồn nhân lực trong lĩnh vực bảo hộ lao động cả về chất lượng và số lượng, đáp ứng kịp thời cho công cuộc phát triển của đất nước.

Bảo hộ lao động ngành điện lực, an toàn điện và tầm quan trọng


Bảo hộ lao động ngành điện lực, an toàn điện và tầm quan trọng
Ngành công nghiệp năng lượng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và căn bản của một đất nước. Không một đất nước nào có thể thực hiện được mục đích tăng trưởng kinh tế và xây dựng nền ngành công nghiệp tiên tiến hiện đại mà không cần đến việc chú trọng tiến bộ công nghiệp năng lượng, đặc biệt là là công nghiệp điện năng.

Điện được sử dụng phổ biến trong khoa học công nghệ và là bộ phận tất yếu trong các công nghiệp cũng như trong cuộc sống hàng ngày. bên canh đó bên cạnh những lợi ích to lớn mà nó đem lại, điện cũng tiềm tàng rất nhiều rủi ro đến tính mạng con cá thể nếu như con cá nhân không biết sử dụng điện đúng cách và không có những hiểu biết cơ bản về điện.
Bảo hộ lao động ngành điện lực chưa hoàn toàn tốt?

Cũng như mọi ngành nghề có tính chất rủi ro cao khác, công tác bảo hộ lao động trong ngành điện luôn được đặt lên đầu tiên. Trong nghị định của chính phủ về việc hướng dẫn làm thông tin một số điều của luật Điện lực, trong đó có đề cập đến việc nghiêm chỉnh tuân thủ các chế độ, chính sách của chính phủ về bảo hộ lao động, phải đảm bảo môi trường làm việc, dụng cụ và phương tiện bảo vệ người cho người lao động làm việc đảm bảo khi tiếp xúc với điện.

Lao động không trang bị thiết bị an toàn điện

Tai nạn lao động ngành điện luôn thương tâm

Có thể nói, đảm bảo điện không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp và công nhân trong ngành điện mà còn là vấn đề đáng được lưu ý của cả xã hội. Khi có nguy hiểm hoặc sự cố xảy ra, nó không chỉ ảnh hưởng đến tính mạng và thiệt hại về tài sản của cải của người lao động dân mà còn gây những hậu quả rất lớn và thiệt hại nghiêm trọng cho ngành điện cũng như toàn xã hội. chính vì thế, mỗi người cần nâng cao kiến thức và ý thức của mình khi sử dụng điện và đặc biệt nhất phải chú trọng đến sự đảm bảo của bản thân bằng việc trang bị những dụng cụ bảo hộ lao động ngành điện lực và an toàn điện cần thiết trong khi làm việc.
Tai nạn thương tâm trong ngành điện làm 6 người thiệt mạng

Chính vì thế, cần thiết và bắt buộc phải trang bị cho công nhân lao động những dụng cụ thiết bị an toàn trong suốt quá trình họ làm việc. Những sản phẩm thường được sử dụng nhiều và có vai trò vô cùng quan trọng đối với những cán bộ lao động trong ngành điện lực như găng tay cách điện, ủng cách điện, bút thử điện, ghế thảm sào cách điện, giúp bảo vệ và mang lại sự an toàn cho con cá thể trong môi trường phải tiếp xúc với điện.

Tai nạn lao động - Ai thiệt hơn ai !


Tai nạn lao động - Ai thiệt hơn ai
Tình trạng mất an toàn lao động

Theo thống kê năm 2011 có đến 5.896 vụ tai nạn lao động xảy ra, cướp đi sinh mạng của 574 người và khiến hơn 1.100 người “thập tử nhất sinh”. Suy cho cùng thì người lao động vẫn là những người bị thiệt thòi nhất: chết hoặc mất khả năng lao động, ảnh hưởng đến không chỉ bản thân người lao động mà còn gia đình, vợ con và cả xã hội nữa …

Tuy vậy, về phía doanh nghiệp, các doanh nghiệp cũng thiệt hại khá nặng nề, chịu trách nhiệm vô hạn hoặc giải thể doanh nghiệp nếu để xảy ra tai nạn chết người tại nơi làm việc của doanh nghiệp mình.

Tai nạn lao động

Theo thông báo “Tình hình tai nạn lao động năm 2011” của thứ trưởng Bùi Hồng Lĩnh thì cả nước có hơn 6.000 người bị tai nạn lao động trong đó 574 người tử vong. Các địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động dẫn đến chết người nhất là TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Thái Nguyên…

Ngành nghề và lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn lao động nghiêm trọng có thể kể đến: khai thác mỏ, xây dựng, sản xuất gia công kim loại-nguyên phụ liệu-may mặc, cơ khí chế tạo, vận hành máy-lò hơi ….

Điều đáng nói là 30% nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động xuất phát từ sự chủ quan lơ là bảo hộ lao động của các chủ doanh nghiệp. Mặc dù các cơ quan chức năng quy định bắt buộc trang bị an toàn lao động, khuyến cáo trang bị dụng cụ an toàn lao động để phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Tuy vậy, ý thức chấp hành an toàn bảo hộ lao động của doanh nghiệp ở nhiều nơi vẫn còn rất thấp.

Có tới 82 vụ tai nạn lao động xảy ra do sự sơ xuất của nhà quản lỹ lao động. Hơn nữa, số vụ tai nạn lao động do không trang bị thiết bị an toàn bảo hộ lao động là 137 và thiết bị không đảm bảo an toàn lên đến 186 vụ.

Năm 2011, tổng phí tổn do tai nạn lao động lên đến gần 300 tỉ đồng, thiệt hại về tài sản hơn 5,8 tỉ đồng. Tính trung bình cứ mỗi vụ tai nạn lao động xảy ra gây thiệt hại lên tới 51 triệu đồng.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn bị nộp phạt khoản đáng kể khi để xảy ra tai nạn do thiếu hoặc không trang bị bảo hộ lao động cho người lao động trong vấn đề bảo hộ lao động.

Tuy nhiên, doanh nghiệp còn mất nhiều khoản vô hình khó nhận ra được. Nhất là việc mất đi nguồn nhân lực lành nghề và phải tuyển dụng và đào tạo lại nguồn nhân lực bổ sung.

Khi tai nạn lao động xảy ra cũng là  lúc doanh nghiệp trở nên “nổi tiếng không mong đợi” . Bị mất uy tín, doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thiệt hại nặng nề cả về hữu hình lẫn vô hình.

Theo các chuyên gia ngành an toàn lao động, 70% nguyên nhân còn lại có một phần là do người lao động chưa nhận thức đầy đủ về an toàn bảo hộ lao động trong môi trường làm việc của mình.

Người lao động không thể hoàn toàn đổ lỗi cho người chủ doanh nghiệp về việc thiếu trang bị dụng cụ an toàn lao động, mà chính người lao động phải tự trang bị cho mình kiến thức về an toàn bảo hộ lao động, tự tìm hiểu thêm luật pháp quy định về chế độ an toàn lao động.

Để hạn chế tối thiểu số vụ tai nạn lao động, mỗi người lao động cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về bảo hộ lao động cũng như các doanh nghiệp cần trang bị những trang thiêt bị cần thiết đển đảm bảo an toàn cho người lao động và tối ưu hóa lợi nhuận cho chính doanh nghiệp.

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

13 CÔNG VIỆC CÓ YÊU CÂU NGHIÊM NGẶT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG

13 CÔNG VIỆC CÓ YÊU CÂU NGHIÊM NGẶT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
1. Lắp ráp, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, tháo dỡ, kiểm tra, giám sát hoạt động máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo Danh mục máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành.
2. Sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển hóa chất nguy hiểm, độc hại theo phân loại của Hệ thống hài hòa toàn cầu về phân loại và ghi nhãn hóa chất.
3. Thử nghiệm, sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển các loại thuốc nổ và phương tiện nổ (kíp, dây nổ, dây cháy chậm…)

4. Vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, tháo dỡ, kiểm tra, giám sát hoạt động máy đóng cọc, máy ép cọc, khoan cọc nhồi, búa máy, tàu hoặc máy hút bùn, máy bơm; máy phun hoặc bơm vữa, bê tông.
5. Lắp ráp, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, vệ sinh các loại máy mài, cưu, xẻ, cắt, xé chặt, đột, dập, đục, đập, tạo hình, nạp liệu, ra liệu, nghiền, xay, trộn, cán, ly tâm, sấy, sàng, sàng tuyển, ép, xeo, tráng, cuộn, bóc vỏ, đóng bao, đánh bóng, băng chuyền, băng tải, súng bắn nước, súng khí nén; máy in công nghiệp
6. Làm khuôn đúc, luyện, cán, đúc, tẩy rửa, mạ, đánh bóng kim loại; các công việc luyện quặng, luyện cốc; làm các công việc ở khu vực lò quay sản xuất xi măng, lò nung hoặc buồng đốt vật liệu chịu lửa, vật liệu xây dựng, luyện cốc, luyện đất đèn; vận hành, sửa chữa, kiểm tra, giám sát, cấp liệu, ra sản phẩm, phế thải các lò thiêu, lò nung, lò luyện
7. Các công việc trên cao, trên sàn công tác di động, nơi cheo leo nguy hiểm, trên sông, trên biển, lặn dưới nước.
8. Vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng máy, thiết bị trong hang hầm, hầm tàu
9.Bảo hộ lao động  Lắp ráp, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, tháo dỡ máy, thiết bị thu phát sóng có điện từ trường tần số cao, các máy chụp X quang, chụp cắt lớp.
10. Khảo sát địa chất, địa hình, thực địa biển, địa vật lý; Khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản, dầu khí.
11. Làm việc ở các nơi thiếu dưỡng khí hoặc có khả năng phát sinh các khí độc như hầm, đường hầm, bể, giếng, đường cống và các công trình ngầm, các công trình xử lý nước thải, rác thải; làm vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, vệ sinh chuồng trại.

 
12. Xây, lắp ráp, tạo, phá dỡ, vệ sinh và bảo dưỡng các kết cấu hoặc công trình xây dựng.
13. Sửa chữa, bảo dưỡng, lắp đặt thiết bị điện; thi công, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hệ thống điện; hàn cắt kim loại.


Thực trạng công tác bảo đảm an toàn lao động hiện nay đang còn rất lơ là.


Thực trạng công tác bảo đảm an toàn lao động hiện nay đang còn rất lơ là
THỰC TRẠNG AN TOÀN LAO ĐỘNG HIỆN NAY
Là một cán bộ bảo hộ lao động của công ty xây dựng với thâm niên gần mười năm, tôi nhận thấy công tác bảo hộ lao động nói chung cũng như công tác an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) nói riêng chưa thật sự được quan tâm trong các công ty xây dựng, trong đó có công ty của tôi.

Người bạn của tôi cũng là cán bộ bảo hộ lao động trong một công ty bảo hộ lao động ở một tỉnh miền Trung kể rằng trong công ty của bạn vừa xảy ra một vụ tai nạn lao động thương tâm. Trong khi thi công lắp ráp dầm cầu, ở độ cao khoảng 1m trên dầm cầu, người công nhân đã bước hụt chân nên té ngã xuống mấy tấm cốt thép, ximăng phía dưới. Do đầu bật ngửa mạnh ra phía sau đập vào trụ bêtông, người công nhân đã chết trên đường đi cấp cứu.

Vốn là bà con trong họ của lãnh đạo công ty nên vụ tai nạn lao động này đã được âm thầm giải quyết, không báo cáo với cơ quan chức năng như quy định.

CÁC QUY ĐỊNH AN TOÀN LAO ĐỘNG

Trong trường hợp này, nếu người công nhân đó có sử dụng trang bị bảo vệ cá nhân là mũ bảo hộ lao động, thì chắc chắn sẽ không bị đe doạ đến tính mạng và điều đáng tiếc không xảy ra. Người công nhân này còn rất trẻ, chưa đầy 30 tuổi.

Trong những lần đi kiểm tra việc chấp hành công tác ATVSLĐ của các đội thi công công trình trực thuộc công ty tại hiện trường, tôi đã chứng kiến nhiều công nhân không sử dụng trang bị bảo vệ cá nhân khi đang làm việc. Nhiều công việc đang thi công trên cao, trên sông nước cheo leo nguy hiểm nhưng công nhân không sử dụng dây treo an toàn, nón bảo hộ hoặc áo phao...

Nhiều công nhân thường cho rằng sử dụng trang bị bảo hộ lao động rất khó khăn trong di chuyển hoặc làm việc không được nhanh nên không sử dụng. Trong khi đó, cán bộ chỉ huy tại công trình cũng làm lơ hoặc chưa chú tâm, quán triệt công tác ATVSLĐ, nhắc nhở hoặc đình chỉ công nhân nếu không sử dụng trang bị bảo hộ lao động cá nhân.

Công ty tôi chỉ có vài trăm người nhưng nhiều lúc trên công trường có cả ngàn công nhân thi công cho kịp tiến độ. Những công nhân “thêm vào” này là lao động thời vụ ở tại địa phương, họ thường không được trang bị bảo hộ lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân đầy đủ.

Cá biệt có trường hợp hàng trăm công nhân làm việc nặng nhọc tại công trình nhưng nhiều năm qua chưa bao giờ được khám sức khoẻ định kỳ để phát hiện bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật lao động. Nhiều lần đi thực tế, chứng kiến cảnh lơ là với ATVSLĐ, trang bị thiếu thốn của công nhân..., tôi đã phản ảnh với lãnh đạo, công đoàn cần phải có biện pháp mạnh và quan tâm hơn nữa đến điều kiện làm việc của công nhân để đảm bảo an toàn hơn, nhưng thực tế vẫn chưa được giải quyết căn cơ.

Mới đây, Bộ Lao động - thương binh & xã hội có đưa ra dự báo giai đoạn 2010 - 2015 mỗi năm sẽ có khoảng 170.000 người bị tai nạn lao động với 1.700 người chết, gây thiệt hại trên 2.000 tỉ đồng. Đây chỉ mới là con số dự báo dựa trên những vụ tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra được báo cáo đầy đủ và được cơ quan có thẩm quyền phát hiện.

Nếu thống kê cả những người chết hoặc bị thương nặng vì tai nạn lao động không được báo cáo hoặc phát hiện như trường hợp của người bạn đồng nghiệp tôi kể, chắc con số sẽ lớn hơn nhiều

Nội dung chủ yêu của bảo hộ lao động bao gồm những yếu tố nào?


Nội dung chủ yêu của bảo hộ lao động bao gồm những yếu tố nào?
Bảo hộ lao động là tổng hợp tất cả các hoạt động trên các mặt luật pháp, tổ chức, hành chính, kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật… nhằm mục đích cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người lao động.

Nội dung chủ yếu của Bảo hộ lao động là an toàn lao động, vệ sinh lao động. Bởi vậy, trong nhiều trường hợp người ta dùng cụm từ "thiết bị bảo hộ lao động" để chỉ công tác Bảo hộ lao động. Trong trường hợp nói đến Bảo hộ lao động, chúng ta hiểu đó là bao gồm cả an toàn lao động, vệ sinh lao động và cả những vấn đề về chính sách đối với người lao động như: vấn đề lao động và nghỉ ngơi, vấn đề lao động nữ, vấn đề bồi dưỡng độc hại.
Điều kiện lao động

Trong hoạt động sản xuất, người lao động phải làm việc trong một điệu kiện nhất định, gọi chung là điều kiện lao động.

Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. Tình trạng tâm sinh lý của NLĐ trong khi lao động tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền mới điều kiên lao động

Việc đánh giá, phân tích điều kiện lao động cần phải tiến hành đồng thời trong mối quan hệ tác động qua lại của các yếu tố nói trên và sự ảnh hưởng, tác động của chúng đến người lao động như thế nào? Từ đó mới có thể có được những kết luận chính về điều kiện lao động ở cơ sở đó và có các biện pháp phù hợp nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động.

Tai nạn lao động

Là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động do kết quả của sự tác động đột ngột từ bên ngoài của các yếu tố nguy hiểm có thể gây chết người hoặc làm tổn thương hoặc làm phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó trên cơ thể. Khi người lao động không có quần áo bảo hộ lao động bị nhiễm độc đột ngột một lượng lớn chất độc gây chết người hoặc huỷ hoại chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể ( nhiễm độc cấp tính) cũng được coi là tai nạn lao động.
Tai nạn lao động được chia làm 3 loại : Tai nạn lao động chết người, Tai nạn lao động nặng,Tai nạn lao động nhẹ.
Để đánh giá tình trạng tai nạn lao động, người ta sử dụng hệ số tần suất tai nạn lao động (K):là số tai nạn lao động tính trên 1000 người 1 năm:

K="(n×1000)÷" N

Trong đó:

n: Số tai nạn lao đông tính cho một đơn vị, địa phương, ngành hoặc cho cả nước

N: Tổng số người lao động tương ứng

K: là hệ số tần suất tai nạn lao động chết người nếu n là số tai nạn lao động chết người.
Bệnh nghề nghiệp